Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4 năm 2011

NGHIÊN CỨU VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XI CỦA ĐẢNG


CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở NƯỚC TA
NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG CƯƠNG LĨNH 2011

Việc xác định đúng đắn, chính xác con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một trong những vấn đề rất hệ trọng của Đảng và nhân dân ta.
Trên cơ sở vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, từ thực tiễn thành công và thất bại của chủ nghĩa xã hội trên thế giới và nhất là từ thực tiễn những năm đầu tiến hành đổi mới, tiếp thu chọn lọc tinh hoa nhân loại, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh đã tổng kết hơn 60 năm quá trình cách mạng Việt Nam, rút ra 5 bài học lớn, phân tích bối cảnh quốc tế trong nước; phác hoạ ra mô hình xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, đồng thời đã phác hoạ ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Qua tổng kết 20 năm thực hiện cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Sau đây gọi tắt là Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011).
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: Để thực hiện các mục tiêu trên (mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta và mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI) toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Cương lĩnh năm 1991 xác định: Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá theo hướng hiện đại. Còn Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh năm 1991 đã xác định mô hình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã chuyển từ “phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”, sang “phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội XI khẳng định: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.
Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Trong bảy phương hướng cơ bản của Cương lĩnh năm 1991 chưa đề cập đến xây dựng con người. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về nhân tố con người; phát triển con người giữ vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đảng ta cũng nhận thức rõ hơn về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, khẳng định: Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, ở từng địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Về phương hướng trên, ở Cương lĩnh năm 1991 không xác định thành một phương hướng cơ bản riêng. Việc bổ sung, phát triển phương hướng “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” là đúng với thực trạng hội nhập của nước ta hiện nay và là phương hướng cơ bản, lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã khẳng định dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết.
Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Cương lĩnh năm 1991 mới xác định xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII. Các đại hội VIII, IX và X đều nhấn mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” là một trong tám phương hướng cơ bản là đúng đắn, phù hợp cả về lý luận và thực tiễn.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.
Cương lĩnh năm 1991 xác định “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”. Đại hội X đã viết gọn lại là “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”.
Khái quát lại, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những bổ sung, phát triển này đã được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn, chính xác.
--------------------------
Triển khai Chỉ thị số 01-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Trang tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XI giới thiệu bài viết “Những bổ sung, phát triển chủ yếu về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” của PGS.TS Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương.
Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Sau đây gọi tắt là Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Chúng tôi xin giới thiệu những bổ sung, phát triển chủ yếu.
Về quá trình cách mạng Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã viết khái quát những thắng lợi vĩ đại đã đạt được trong hơn 80 năm qua: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; Thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam (có bổ sung, phát triển so với Cương lĩnh năm 1991).
Về những bài học kinh nghiệm đã Bổ sung vào nội dung bài học thứ hai, nói rõ: “Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân, sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”. Thực tế tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến vận mệnh của đất nước, đến sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa, đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng; Khẳng định: “sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Việt Nam Việt Nam” chứ không chỉ là “nhân tố hàng đầu bảo đảm” như Cương lĩnh năm 1991 viết; Khắc phục cách diễn đạt trùng lắp ở các bài học thứ nhất, thứ ba, thứ tư. Chẳng hạn, bỏ ý nghĩa của từng bài học. Vì cả 5 bài học đều là 5 bài học kinh nghiệm lớn xuyên suốt hơn 80 năm qua.
Về bối cảnh quốc tế được bổ sung, phát triển nhiều vấn đề so với Cương lĩnh năm 1991, bởi bối cảnh hiện nay và dự báo trong vài thập kỷ tới khác rất nhiều so với thời điểm Đảng ta ban hành Cương lĩnh năm 1991. Các đại hội Đảng gần đây, nhất là Đại hội X đã dự báo sâu sắc về bối cảnh thế giới và thực tế đã khẳng định tính đúng đắn các dự báo đó. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) viết gọn hơn theo hướng không đi sâu vào những vấn đề thế giới không liên quan trực tiếp đến nước ta hiện nay, nhất là những vấn đề còn có ý khác nhau, như về nguyên nhân sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Với tinh thần đó, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển nhiều, nhất là trên 3 vấn đề sau:
Một là, về đặc điểm, xu thế chung.
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước.
- Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; nhưng đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ biển đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra phức tạp.
Hai là, nhận định về những vấn đề toàn cầu cấp bách liên quan đến vận mệnh loài người.
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung hai vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người: Chống khủng bố; ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Ba là, nhận định về đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại.
Thực tế hai thập kỷ qua cho thấy các nước đều tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh cạnh tranh gay gắt với nhau vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì thế, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) viết: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc”.
Về mô hình, mục tiêu, phương hướng cơ bản
Về mô hình
Bổ sung thêm 2 đặc trưng: Đặc trưng bao trùm, tổng quát: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và đặc trưng “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Hai đặc trưng này Đại hội X đã bổ sung. Điểm mới so với Đại hội X là chuyển từ “dân chủ" lên trước từ “công bằng” trong đặc trưng bao trùm, tổng quát. Bởi vì, cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ dân chủ là điều kiện, tiền đề của công bằng, văn minh; đồng thời, để nhấn mạnh bản chất của xã hội ta là xã hội dân chủ theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bổ sung, phát triển một số đặc trưng cho chính xác với mục tiêu đã xây dựng xong chủ nghĩa xã hội.
- Kế thừa sự bổ sung, phát triển của Đại hội X về đặc trưng “do nhân dân làm chủ”.
- Đặc trưng về kinh tế: kế thừa Đại hội X, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” (so với Đại hội X có bổ sung thêm từ “tiến bộ”).
- Đặc trưng về con người. Cương lĩnh năm 1991 xác định: Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.
- Đặc trưng về dân tộc. Cương lĩnh 1991 xác định: các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”.
- Đặc trưng về hợp tác quốc tế. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
Trong các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, có một đặc trưng trong quá trình thảo luận có những ý kiến khác nhau. Cương lĩnh năm 1991 xác định “có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”. Qua tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn sau 20 năm đổi mới, trong đó có 15 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội X xác định “Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Kế thừa Đại hội X, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” (so với Đại hội X bổ sung thêm từ “tiến bộ”, Đại hội đã biểu quyết với 65,04% đồng ý với đặc trưng này).
Về mục tiêu
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) cơ bản giữ mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã được xác định trong Cương lĩnh 1991 và xác định mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI: toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về các phương hướng cơ bản
Cương lĩnh năm 1991 xác định bảy phương hướng cơ bản. Cách viết như Cương lĩnh năm 1991 đề cập đến cả định hướng phát triển, nên có nhiều nội dung trùng với nội dung đề cập ở mục III và IV. Đại hội X, qua tổng kết 20 năm đổi mới đã viết gọn lại. Kế thừa cách viết như Đại hội X, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: Để thực hiện thành công các mục tiêu trên (mục tiêu tổng quát, mục tiêu của chặng đường tới), toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường (so với Đại hội X thêm cụm từ “gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”).
Hai là , phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là , xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. (so với Đại hội X bổ sung thêm cụm từ “xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”).
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (so với Đại hội X bổ sung thêm cụm từ “trật tự, an toàn xã hội”).
Năm là , thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế (Đại hội X mới xác định “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”).
Sáu là , xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất (so với Đại hội X thêm cụm từ “tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất”).
Bảy là , xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tám là , xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung nội dung về việc nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; …
Những định hướng lớn về phát triển kinh tế
So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) có rất nhiều bổ sung, phát triển và đã chỉ rõ những định hướng sau:
Định hướng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối (Cương lĩnh năm 1991 mới xác định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa).
- Về vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế:
Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Từ Đại hội VIII, Đảng ta đã sử dụng khái niệm “kinh tế nhà nước”, bao gồm: ngân sách nhà nước, các quỹ của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước. Từ Hội nghị Trung ương 3 khoá IX đã xác định: kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo theo nghĩa: “có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị xã hội của đất nước”; đồng thời cũng xác định doanh nghiệp nhà nước “giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thực tế những năm qua, nhất là trong điều kiện khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, càng cho thấy phải khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò quan trọng, làm nòng cốt của doanh nghiệp nhà nước, gắn với vai trò quản lý và điều tiết nền kinh tế của Nhà nước. Như vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không mâu thuẫn, hạn chế sự phát triển bình đẳng, lâu dài các thành phần kinh tế, mà chính là mở đường, thúc đẩy, tạo điều kiện, tạo động lực cho phát triển các thành phần kinh tế; Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển; Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân (chủ trương này phù hợp với mục tiêu khi kết thúc thời kỳ quá độ); Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế (xác định là “một trong những động lực” là không hề có ý coi nhẹ các thành phần kinh tế khác đối với sự phát triển của đất nước); Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển (định hướng này thể hiện rõ tầm quan trọng của việc thu hút các nguồn lực bên ngoài cho phát triển).
- Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển.
- Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phân định rõ quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh doanh đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
- Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và theo nguyên tắc thị trường; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng với nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.
- Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất.
Định hướng về phát triển các ngành, các vùng
- Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và chú trọng bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
- Thường xuyên coi trọng phát triển các ngành công nghiệp có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới.
- Bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn.
- Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Định hướng lớn về phát triển văn hoá, xã hội
Về văn hoá
So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) bổ sung, phát triển hai nội dung sau:
- Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.
- Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.
Về con người
So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) có hai bổ sung, phát triển sau:
- Khẳng định: Con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.
- Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách.
Về giáo dục và đào tạo
So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) có ba bổ sung, phát triển sau: Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam; Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển; Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.
Về khoa học và công nghệ
So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển nhiều, nổi bật là hai nội dung sau: Nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới; Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ.
Về bảo vệ môi trường
Cương lĩnh năm 1991 chỉ xác định “Tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và mai sau”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ những nội dung sau: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân; Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm và khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch; Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm hoạ thiên nhiên.
Về chính sách xã hội
So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) có những bổ sung, phát triển sau: Từ chủ trương: “Kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ” (Cương lĩnh năm 1991) thành “Kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách”; “Khuyến khích tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động” (Cương lĩnh năm 1991) thành “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với giảm nghèo bền vững”; “thiết lập một hệ thống đồng bộ và đa dạng về bảo hiểm và trợ cấp xã hội” (Cương lĩnh năm 1991) thành “hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”.
Bổ sung thêm chủ trương: “Hạn chế, tiến tới đẩy lùi tội phạm và giảm tác hại của tệ nạn xã hội. Bảo đảm quy mô hợp lý, cân bằng giới tính và chất lượng dân số”.
Về xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển những nội dung sau:
Xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Cụ thể như sau:
- Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam , giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Xây dựng, phát huy vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Đào tạo, bồi dưỡng, phát huy mọi tiềm năng và sức sáng tạo của đội ngũ trí thức để tạo nguồn trí tuệ và nhân tài cho đất nước.
- Xây dựng đội ngũ những nhà kinh doanh có tài, những nhà quản lý giỏi, có trách nhiệm xã hội, tâm huyết với đất nước và dân tộc.
- Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc (Cương lĩnh năm 1991 chưa đề cập đến thế hệ trẻ).
- Thực hiện bình đẳng giới và hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
- Quan tâm thích đáng lợi ích và phát huy khả năng của các tầng lớp dân cư khác.
- Hỗ trợ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, giữ gìn bản sắc dân tộc, chấp hành tốt pháp luật các nước sở tại, hướng về quê hương, tích cực góp phần xây dựng đất nước.
- Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam . Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.
- Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
Về quốc phòng, an ninh và định hướng đối ngoại
So với Cương lĩnh năm 1991, về quốc phòng, an ninh Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) có một số bổ sung, phát triển như sau:
- Về mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh: Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta” (bổ sung thêm nội dung “Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình”).
- Phát triển đường lối, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân và lý luận, khoa học an sinh quốc gia (bổ sung thêm định hướng phát triển lý luận, khoa học an ninh nhân dân).
- Bổ sung thêm định hướng “chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”.
- Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh” (bổ sung thêm vai trò quản lý của Nhà nước).
So với Cương lĩnh năm 1991, về định hướng đối ngoại Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển những nội dung sau:
- Khẳng định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giầu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
- Xác định rõ hơn cơ sở của sự hợp tác: Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế.
- Mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập tự chủ, vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển (bổ sung thêm quan hệ với “những đảng khác”).
Về dân chủ xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị
So với Cương lĩnh năm 1991, về dân chủ xã hội chủ nghĩa Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển những nội dung: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
So với Cương lĩnh năm 1991, về nhà nước Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển những nội dung: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân cơ bản giữ như Cương lĩnh năm 1991, có bổ sung, phát triển làm rõ hơn vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân: “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước”.
Về Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung cách diễn đạt bản chất của Đảng đã được Đại hội X thông qua: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Về nền tảng tư tưởng của Đảng: Tiếp tục khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Bổ sung đoạn nói về tư tưởng Hồ Chí Minh để nhấn mạnh vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”. Nội dung này đã được thống nhất từ Đại hội IX, thể hiện một bước phát triển về tư duy chính trị và lý luận của Đảng ta; đồng thời cũng thể hiện niềm tự hào của Đảng và nhân dân ta đối với lãnh tụ thiên tài và kính yêu của dân tộc. Bổ sung hoàn chỉnh hơn phương thức lãnh đạo của Đảng: Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị; Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu./.


PGS-TS Nguyễn Viết Thông


NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ NỘI DUNG QUAN TRỌNG
TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XI CỦA ĐẢNG
(Phần I)

(Web.ĐHXI)- Ngày 1/4 vừa qua, tại Hà Nội, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức cuộc tọa đàm “Những điểm mới và nội dung quan trọng trong Văn kiện Đại hội XI” với sự tham gia của các nhà lý luận, nhà nghiên cứu là thành viên Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội XI.
Dưới đây là nội dung buổi tọa đàm:
MC: Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 12 đến ngày 19 tháng 1 năm 2011 đã thông qua nhiều nội dung quan trọng như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khoá X trình Đại hội XI.... Nhằm phân tích và làm nổi rõ những điểm mới, điểm quan trọng trong các Văn kiện này, góp phần tuyên truyền và triển khai có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XI đi vào cuộc sống, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức cuộc Tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Những điểm mới và nội dung quan trọng trong Văn kiện Đại hội XI”.
Tham dự cuộc Tọa đàm, có các đồng chí:
- PGS-TSKH Nguyễn Văn Đặng, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương, Thường trực Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội XI;
- PGS-TS Nguyễn Viết Thông, Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương, Thường trực Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội XI;
- PGS-TS Nguyễn Viết Thảo, Tổng Biên tập Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, thành viên Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội XI.
MC: Thưa đồng chí Nguyễn Văn Đặng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định một trong các mối quan hệ lớn cần chú trọng nắm vững và giải quyết tốt trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là "quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị". Đề nghị đồng chí phân tích quan điểm của Đảng về vấn đề này ?
Đồng chí Nguyễn Văn Đặng: Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có vị trí đặc biệt quan trọng trong đường lối đổi mới toàn diện của Đảng ta.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ: Nhiều năm nay, trong nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu, nhất là những quan niệm về công nghiệp hoá, về cải tạo xã hội chủ nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế, về phân phối lưu thông... Vì vậy, phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn. Đổi mới tư duy trong mọi lĩnh vực của Đảng và Nhà nước là việc cấp bách, đồng thời là việc thường xuyên, lâu dài.
Tổng kết chặng đường đổi mới qua 10 năm, Đại hội VIII đã rút ra một trong những bài học chủ yếu là: Phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Xét trên tổng thể, Đảng ta đã bắt đầu công cuộc đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác.
Đại hội X đã nhận định: Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết các mối quan hệ, trong đó có mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; Đã rút ra một trong những bài học lớn về yêu cầu đổi mới toàn diện là: Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tại Đại hội XI, tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược, đã xác định một trong những nguyên nhân chủ quan của hạn chế, yếu kém là: Tư duy phát triển kinh tế - xã hội và phương thức lãnh đạo của Đảng chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước. Trong tổng kết thực hiện nhiệm vụ 5 năm, đối với những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân chủ quan được coi là trực tiếp và quyết định nhất, trong đó nguyên nhân được đề cập đến đầu tiên là: Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; nhận thức trên nhiều vấn đề cụ thể của công cuộc đổi mới còn hạn chế, thiếu thống nhất. Thực tế đó đòi hỏi, trong những năm tới, không thể chỉ đổi mới hệ thống chính trị, mà phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới chính trị theo nghĩa cả đổi mới tư duy chính trị và đổi mới hệ thống chính trị.
MC: Vâng, xin đồng chí cho biết cụ thể hơn về những quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong Cương lĩnh?
Đồng chí Nguyễn Văn Đặng: Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong 8 mối quan hệ lớn phải đặc biệt chú trọng, nắm vững và giải quyết tốt trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tới, Đảng ta đã xác định yêu cầu và nội dung đổi mới chính trị: Đổi mới đồng bộ và phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển.
MC: Tại Đại hội lần này cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất. Đề nghị đồng chí nói rõ thêm nội dung cơ bản của "quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp" được nêu ra trong Đại hội XI ?
Đồng chí Nguyễn Văn Đặng: Đây là một mối quan hệ lớn được Đảng ta đặc biệt quan tâm và liên tục có nhiều đổi mới rất quan trọng, có tính đột phá, nhất là từ Đại hội VI đến nay.
Trong thời kỳ đầu sau giải phóng, miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò "tích cực" của quan hệ sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo động lực cho sự phát triển lực lượng sản xuất.

Bước vào thời kỳ đổi mới, chúng ta đã ngày càng khẳng định rõ: Phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Đại hội VIII xác định: Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đại hội IX xác định rõ thêm: Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối.
Nhưng căn cứ vào đâu để đánh giá được trong thực tiễn sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng ta đã không ngừng tìm tòi, và từ thực tiễn đổi mới của đất nước, Đại hội VIII khẳng định: Phải lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh. Đại hội IX khẳng định rõ thêm: Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. Qua tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X đã kế thừa và phát triển tinh thần của Đại hội VIII và IX, xác định đầy đủ hơn về đặc trưng kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là: "Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất" (Cương lĩnh năm 1991 xác định là:... dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu).
Qua tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI đã thảo luận và biểu quyết với đa số phiếu tán thành nội dung đặc trưng kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là: "có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp". Sự phù hợp ở đây bao gồm cả phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại và phù hợp với bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đây là một bước bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và các nghị quyết của Đảng từ sau đổi mới về vấn đề này.
Từ những thành tựu của quá trình đổi mới, Đại hội XI đã tiếp tục xác định rõ thêm những chủ trương, chính sách lớn của Đảng về xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất trong những năm tới. Những quan điểm, chính sách quan trọng tiếp tục được khẳng định là:
- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển
Trong các hình thức sở hữu hỗn hợp đó, chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần; cần khuyến khích phát triển để các hình thức tổ chức kinh doanh này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thức đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu.
Phải tăng cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Phát triển mạnh kinh tế tư nhân để trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Khuyến khích phát triển kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài theo quy hoạch.
- Quan hệ phân phối đảm bảo công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.
- Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế mặt tiêu cực, những khiếm khuyết của cơ chế thị trường. Đồng thời phải tôn trọng và phát huy đầy đủ vai trò của các chủ thể kinh doanh.
MC: Trong các văn kiện Đại hội XI, mục tiêu "Phát triển bền vững nền kinh tế" được khẳng định nhất quán. Đề nghị đồng chí cho biết những quan điểm cụ thể về mục tiêu này?
Đồng chí Nguyễn Văn Đặng: Cả Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020 và Báo cáo chính trị tại Đại hội XI đều rút ra bài học về mục tiêu phải bảo đảm phát triển bền vững nền kinh tế; đó là: Phải thực sự (đặc biệt) coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tỉ lệ tăng trưởng hợp lý.

Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược 10 năm qua (2001-2010) đã xác định một trong những yếu kém của chúng ta là: kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc...
Những quan điểm và giải pháp lớn Đại hội XI đã xác định để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế là :
- Nội hàm phát triển bền vững nền kinh tế ở nước ta là: Coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là yêu cầu ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức; tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Quan hệ giữa phát triển nhanh và bền vững của nước ta là: Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết. Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược. Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
- Điều kiện để phát triển bền vững là: Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.
MC: Để thực hiện tốt các mục tiêu phát triển bền vững, Đại hội XI cũng đã đề ra những giải pháp để thực hiện. Xin đồng chí cho biết những giải pháp chủ yếu ?
Đồng chí Nguyễn Văn Đặng: Những giải pháp lớn để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế nước ta là:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Phải có những giải pháp đồng bộ để phát triển kinh tế tri thức. Hết sức coi trọng vai trò của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo. Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mọi công dân.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế; Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững; Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, phát triển kinh tế tri thức; Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh.
Phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, tăng cường độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế.
Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế đồng thời chú trọng phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách.
MC: Vâng, xin trân trọng cảm ơn đồng chí Nguyễn Văn Đặng !

Phần II

(Web.ĐHXI)- Ngày 1/4 vừa qua, tại Hà Nội, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức cuộc Tọa đàm “Những điểm mới và nội dung quan trọng trong Văn kiện Đại hội XI” với sự tham gia của các nhà lý luận, nhà nghiên cứu và là thành viên Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội XI.
MC: Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 12 đến ngày 19 tháng 1 năm 2011 đã thông qua nhiều nội dung quan trọng như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá X trình Đại hội XI.... Nhằm phân tích và làm rõ những điểm mới, điểm quan trọng trong các Văn kiện này, góp phần tuyên truyền và triển khai có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XI đi vào cuộc sống, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức cuộc Tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Những điểm mới và nội dung quan trọng trong Văn kiện Đại hội XI”
MC: Thưa đồng chí Nguyễn Viết Thông, xin đồng chí phân tích quan điểm của Đại hội XI về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ?
Đồng chí Nguyễn Viết Thông: Về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Sự khẳng định trên mang tính kế thừa từ các Đại hội trước và dựa trên những căn cứ sau:
(1) Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng đã được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng.
(2) Thực tế suốt hơn 80 năm qua của cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo, nhất là 25 năm đổi mới, đã khẳng định việc lựa chọn nền tảng là đúng đắn.
(3) Phù hợp với việc xác định nền tảng tư tưởng của đa số các Đảng Cộng sản, công nhân trên thế giới, trong đó có các Đảng cầm quyền.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Cu ba, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đều khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin (hoặc chủ nghĩa Mác) làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Trong đó, có 3 Đảng xác định thêm thành tố cấu thành nền tảng tư tưởng:
+ Đảng Cộng sản Việt Nam với “tư tưởng Hồ Chí Minh”;
+ Đảng Cộng sản Trung Quốc với tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng “ba đại diện” và “phát triển quan khoa học”.
+ Đảng Cộng sản Cu Ba với “tư tưởng Hô-xê Mác ti”.
- Đảng Lao động Triều Tiên lấy “tư tưởng chủ thể” của Kim Nhật Thành làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, coi tư tưởng chủ thể là chủ nghĩa Mác Lênin đã được phát triển đến giai đoạn cách mạng cao nhất.
MC: Liên quan đến nền tảng tư tưởng, tại Đại hội lần này có bổ sung một số điểm mới về tư tưởng Hồ Chí Minh, xin đồng chí cho biết rõ hơn nội dung này?
Đồng chí Nguyễn Viết Thông: Điểm mới trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung một đoạn mới về tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò, vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghãi Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.
(1) Sự khẳng định trên là kế thừa và phát triển quan điểm của Đại hội IX.
(2) Nhiệm kỳ Đại hội IX đã phát động Cuộc vận động “Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Nhiệm kỳ Đại hội X đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Văn kiện Đại hội XI xác định “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” và “Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân”.
(3) Khẳng định vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
MC: Thưa đồng chí, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, xin đồng chí phân tích quan điểm của Đại hội XI về vấn đề này?
Đồng chí Nguyễn Viết Thông: Trong các văn kiện Đại hội XI đã coi trọng vấn đề “dân chủ”. Cụ thể như sau:
1. Về vấn đề dân chủ, trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ:
(1) Trong 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng có đặc trưng “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. So với Đại hội X là đưa từ “dân chủ” lên trước từ “công bằng”, vì 5 lý do:
- Dân chủ là tiền đề, điều kiện để có công bằng, văn minh.
- Hồ Chí Minh đề cao dân chủ “Dân chủ là chìa khóa vạn năng”, “dân chủ là quý báu...”
- Dân chủ là ước vọng của loài người.
- Thực trạng dân chủ trong Đảng và trong xã hội ta hiện nay: Bên cạnh những bước tiến về thực hiện dân chủ, còn nhiều hạn chế yếu kém.
- Các thế lực thù địch tấn công ta về “dân chủ”, “nhân quyền”.
(2) Một trong tám phương hướng cơ bản là: “Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”.
(3) Một trong tám mối quan hệ cơ bản là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
(4) Khẳng định rõ những vấn đề sau đây:
- Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ cương, kỷ luật và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.
- Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và phát luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.
- Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
2. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 cũng đề cao dân chủ:
(1) 2 trong 5 quan điểm phát triển đề cập đến dân chủ:
+ Quan điểm 2: Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, dân chủ, công bằng, văn minh.
+ Quan điểm 3: Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tieu của sự phát triển.
(2) Trong mục tiêu tổng quát: Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị, xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận...
(3) Trong mục tiêu chủ yếu: Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh.
(4) Chỉ rõ: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước. Tăng cường dân chủ trong Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một nội dung quan trọng của đổi mới chính trị. Coi trọng dân chủ trực tiếp trong xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền.
3. Báo cáo chính trị nhấn mạnh phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa:
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt hơn chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
- Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp; Thực hiện tốt hơn quy chế dân chủ ở cơ sở và pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
- Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội, phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức.
MC: Trong các văn kiện tại Đại hội lần này cũng đề cập đến những quan điểm cơ bản về Nhà nước, xin đồng chí cho biết cụ thể về những quan điểm đó ?
Đồng chí Nguyễn Viết Thông: Quan điểm cơ bản của Đại hội XI về Nhà nước và hệ thống chính trị:
1. Về Nhà nước, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định:
(1) Một trong 8 đặc trưng cơ bản của CNXH mà nhân dân ta đã xây dựng là: có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
(2) Một trong 8 phương hướng cơ bản là: Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
(3) Một trong 8 mối quan hệ lớn là mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
(4) Chỉ rõ những định hướng lớn:
- Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân cấp, có sự phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN.
- Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
- Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương.
2. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 dành cả một mục về Nhà nước. Đó là, mục V: “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bảo đảm thực hiện thắng lợi chiến lược”. Trong đó nhấn mạnh:
(1) Thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.
(2) Hoàn thiện bộ máy nhà nước, tạo bước chuyển biến mạnh về cải cách hành chính.
(3) Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
(4) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước.
3. Báo cáo chính trị có mục XI: Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, chỉ rõ trong 5 năm tới cần thực hiện 4 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
(1) Nâng cao nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
- Đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
- Nghiên cứu, xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 phù hợp với tình hình mới. Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm soát, giám sát tính hợp hiến hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền.
(2) Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước:
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội.
- Nghiên cứu xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước.
- Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh có hiệu lực, hiệu quả, tổ chức tinh gọn và hợp lý, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong điều hành của Chính phủ. Tổng kết, đánh giá việc thực hiện chủ trương sắp xếp các bộ, ban, ngành quản lý đa ngành, đa lĩnh vực để có chủ trương, giải pháp phù hợp.
- Đẩy mạnh cải cách là chính, tiếp tục thí điểm chủ trương không tổ chức HĐND quận, huyện, phường.
(3) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có nguồn lực đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế trong tình hình mới.
- Rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý cán bộ, công chức.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
- Tổng kết  việc thực hiện nhất thể hoá một số chức vụ lãnh đạo đảng, để có chủ trương phù hợp.
(4) Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính, phục vụ phòng chống tham nhũng lãng phí. Tổng kết đánh giá cơ chế và mô hình tổ chức cơ quan, phòng chống tham nhũng có chủ trương phù hợp.
- Coi trọng và nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân trong đấu tranh chống tham nhũng.
MC: Xin đồng chí cho biết những quan điểm cơ bản về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong các Văn kiện Đại hội lần này?
Đồng chí Nguyễn Viết Thông: Về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ) và các đoàn thể nhân dân trong Cương lĩnh xác định rõ:
- MTTQ, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ của dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
- Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tính sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội.
Trong Báo cáo chính trị cũng nhấn mạnh: MTTQ và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hoá; phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước; vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
MC: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí Nguyễn Viết Thông !
Phần III
(Web.ĐHXI)- Ngày 1/4 vừa qua, tại Hà Nội, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức cuộc Tọa đàm “Những điểm mới và nội dung quan trọng trong Văn kiện Đại hội XI” với sự tham gia của các nhà lý luận, nhà nghiên cứu và là thành viên Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội XI.
Dưới đây là nội dung buổi Tọa đàm.
MC: Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 12 đến ngày 19 tháng 1 năm 2011 đã thông qua nhiều nội dung quan trọng như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá X trình Đại hội XI.... Nhằm phân tích và làm nổi rõ những điểm mới, điểm quan trọng trong các Văn kiện này, góp phần tuyên truyền và triển khai có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XI đi vào cuộc sống, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức cuộc Tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Những điểm mới và nội dung quan trọng trong Văn kiện Đại hội XI”.
MC: Thưa đồng chí Nguyễn Viết Thảo, trong các Văn kiện Đại hội XI cũng đánh giá kỹ tình hình thế giới và khu vực; đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản cho đường lối, chính sách đối ngoại phù hợp với bối cảnh mới. Văn kiện Đại hội XI vừa kế thừa, vừa bổ sung, phát triển quan điểm của các Đại hội trước. Xin đồng chí cho biết một số nội dung cơ bản liên quan đến vấn đề này  ?
Đồng chí Nguyễn Viết Thảo: Nhận thức kịp thời và đúng đắn về thời đại và bối cảnh quốc tế luôn luôn là một trong những chủ đề hàng đầu trong các văn kiện cơ bản của các chủ thể trong đời sống chính trị quốc gia. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay, khi mỗi quốc gia dân tộc trở thành bộ phận của một thế giới, tùy thuộc lẫn nhau một cách hữu cơ, sống còn, chủ đề đó càng có ý nghĩa cấp thiết gấp bội.
Gần 20 năm qua, từ năm 1991 đến nay, thế giới có nhiều biến động sâu sắc trên mọi bình diện, từ tầng sâu vật chất, kinh tế đến các lĩnh vực xã hội, văn hóa, chính trị... khiến không quốc gia dân tộc nào có thể tiếp tục phát triển mà không cần điều chỉnh, thích nghi. Nhờ đứng vững trên nền tảng của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Đại hội XI đã tổng kết sinh động thực tiễn thế giới trong những thập kỷ bước ngoặt vừa qua và nêu ra nhiều đánh giá xác đáng về giai đoạn hiện nay của thời đại.
Trước hết, cuộc cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức với việc tạo ra các công cụ lao động và phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất mới, đã khai sinh ra một thời đại kinh tế mới, khác nhiều so với thời đại kinh tế công nghiệp hàng trăm năm qua. Tuy thời đại kinh tế không đồng nghĩa với thời đại như một phạm trù lịch sử, nhưng sự ra đời của một thời đại kinh tế mới hiển nhiên đặt tiến trình vận động của thời đại ngày nay vào bối cảnh, điều kiện chứa đựng thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức chưa hề có tiền lệ.
Giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại là sự kiện nằm ngoài nhận thức trước kia về thời đại ngày nay. Đây là kết quả của quá trình chủ nghĩa tư bản điều chỉnh, thích nghi có hiệu quả với nền sản xuất và với xã hội hậu công nghiệp; đồng thời, cũng là hệ quả từ sự thoái trào của cách mạng thế giới. Sau khi định hướng xã hội chủ nghĩa và định hướng chống tư bản đế quốc tan biến khỏi không gian của hàng loạt quốc gia đang phát triển, phương thức sản xuất và chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa có được gần như toàn bộ “ngoại vi” rộng lớn Á, Phi, Mỹ Latinh.
Để tìm cách thoát khỏi bế tắc, từ đầu thập kỷ 80 đến nay, chủ nghĩa tư bản ra sức triển khai chủ nghĩa tự do mới trên phạm vi toàn cầu với những cơn hồng thuỷ phi điều tiết hoá, tư nhân hoá, tự do hoá, buộc các nền kinh tế quốc gia phải mở cửa rộng rãi cho tư bản độc quyền quốc tế xâm nhập. Với tính cách là mô hình chủ nghĩa tư bản trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, chủ nghĩa tự do mới vừa đem lại hào quang không thể phủ nhận, vừa tô đậm thêm những hạn chế không thể vượt qua của chủ nghĩa tư bản.
Một mặt, kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế hiện đại, năng suất lao động được cải thiện, ngoại thương rộng mở, chuyển giao công nghệ đạt quy mô lớn...; mặt khác, phân cực giàu - nghèo ngày càng trầm trọng trên mọi cấp độ, kinh tế ảo vượt xa kinh tế thực do đầu cơ tài chính - tiền tệ toàn cầu, phản kháng xã hội gay gắt, văn hoá dân tộc bị chà đạp, môi trường sinh thái bị tàn phá nặng nề, nguy cơ đe doạ an ninh lan tràn khắp thế giới...
Chủ nghĩa tư bản, dưới hình thức hiện đại nhất của nó là chủ nghĩa tự do mới, đã bị phê phán quyết liệt ngay từ bên trong và ở quy mô toàn cầu. Đảng ta hoàn toàn có căn cứ khi khẳng định: “Chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản”.
Toàn cầu hóa là tất yếu lịch sử do trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất quyết định và nó hướng tới một thế giới như một chỉnh thể thống nhất, công bằng. Trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hóa đang bị chủ nghĩa tư bản chi phối với mục tiêu chiến lược là thiết lập các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu. Trên thế giới, xuất hiện cục diện vừa hợp tác chặt chẽ, vừa đấu tranh quyết liệt giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, an ninh, chính trị... Mọi hình thái tập hợp lực lượng trên vũ đài quốc tế đều được cấu trúc lại, làm phong phú gấp bội các xu hướng lịch sử so với cách đây 2-3 thập kỷ. 
Toàn cầu hoá trước hết là một quá trình kinh tế và kỹ thuật - công nghệ; đồng thời, là một quá trình kinh tế - xã hội và quá trình chính trị - xã hội, vừa tạo ra những lợi ích chung, những thể chế phổ biến, vừa chứa đựng nhiều lợi ích, khuynh hướng khác nhau, mâu thuẫn nhau giữa các chủ thể tham gia. Bởi vậy, toàn cầu hoá là một quá trình vừa hợp tác rộng mở, vừa đấu tranh gay gắt, phức tạp giữa các quốc gia, tập đoàn, cộng đồng, cá nhân... với nhau. Mặc dù không hề mất đi cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nhưng “đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt với lợi ích quốc gia, dân tộc” như Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) khái quát.
Những vấn đề toàn cầu (chiến tranh thế giới, bùng nổ dân số, thảm họa môi trường sinh thái và các dịch bệnh hiểm nghèo) thật sự vượt khỏi tầm kiểm soát của một quốc gia, một chủ thể quốc tế riêng biệt, cho dù đó là siêu cường hay tổ chức quốc tế rộng lớn nhất. Hoàn cảnh này  buộc tất cả các lực lượng đối địch, đối kháng, đối lập nhau phải thiết lập những vòng tay hợp tác để cứu vớt một lợi ích chung: Đó là lợi ích bảo tồn sự sống chung, trong đó có sự sống của chính mình. Chưa bao giờ, cuộc đấu tranh vì các lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc lại phải chịu sự ràng buộc với cuộc đấu tranh vì những lợi ích chung như ở giai đoạn hiện nay của thời đại.
Quá trình cải cách, đổi mới và triển vọng của chủ nghĩa xã hội, của phong trào cộng sản trên thế giới đã được Đại hội XI tổng kết kịp thời và có nhiều nhận định sát hợp. Từ 2-3 thập kỷ trở lại đây, chủ nghĩa xã hội lại chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển. Với cường quốc Trung Quốc chiếm gần 1/5 dân số thế giới, liên tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế suốt gần 30 năm qua, hiện đứng thứ 2 về GDP toàn cầu; với Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đang sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của các nước; với Cuba kiên định và sáng tạo trong vòng tay ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bè bạn khắp năm châu; với sự phục hồi và hoạt động của phong trào cộng sản quốc tế gồm hơn 130 đảng, trên 80 triệu đảng viên, chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản quốc tế vẫn là một lực lượng chính trị đi tiên phong trong nhiều mục tiêu của thời đại; là niềm hy vọng của đông đảo nhân dân lao động toàn thế giới; là một chủ thể quan hệ quốc tế mà không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Cương lĩnh khẳng định: “Một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước hồi phục”.
Con đường chủ nghĩa xã hội do Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra từ năm 1917 không chỉ là của giai cấp vô sản, mà là con đường của các tầng lớp lao động, lực lượng cách mạng, các dân tộc bị bóc lột, áp bức và nhân loại tiến bộ, cho nên đó là con đường của thế kỷ XXI. Chân lý này đang được minh chứng sinh động ở nhiều nơi trên thế giới, tiêu biểu là ở  Mỹ La tinh và đất nước Vênêzuêla tươi đẹp, nơi phong trào cánh tả đang dấy lên thành một cao trào mới và đang nhiệt tình kiến tạo chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI. Phía trước ắt hẳn còn nhiều chông gai, thậm chí cả những bước lùi tạm thời, nhưng nhân dân thế giới sẽ tiếp tục tìm kiếm những hình thức khác nhau đi đến một thế giới khác, ở đó, chủ nghĩa tư bản không phải là sự lựa chọn, càng không là một tất yếu. Cuộc đấu tranh tự giác ấy của lao động toàn thế giới sẽ buộc sự vận động của các mâu thuẫn nội tại trong lòng chủ nghĩa tư bản trở thành khuynh hướng lịch sử  tiến lên chủ nghĩa xã hội, như Cương lĩnh khẳng định: “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.”
MC: Đại hội XI đã đề ra những phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của đường lối đối ngoại. Xin đồng chí cho biết rõ hơn về những nội dung đó ?
Đồng chí Nguyễn Viết Thảo: Đại hội XI tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển. Mục tiêu tổng quát của công tác đối ngoại là: Giữ vững môi trường hoà bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh và phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhiệm vụ này cho thấy rõ yêu cầu đối với công tác đối ngoại, trước hết là phải phấn đấu vì lợi ích dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Lợi ích cao nhất của dân tộc ta là xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Song, đề cao lợi ích dân tộc không có nghĩa từ bỏ chủ nghĩa quốc tế chân chính, mà còn phải góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng ta trong điều kiện và khả năng cho phép đối với các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới đang đấu tranh vì những mục tiêu cao cả của thời đại.
Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đối ngoại bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Các nguyên tắc trên là sự cụ thể hoá nguyên tắc bao trùm, xuyên suốt đường lối đối ngoại đổi mới là giữ vững hoà bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt trong xử lý các tình huống phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, vị trí của nước ta cũng như diễn biến của tình hình quốc tế, phù hợp với đặc điểm của từng đối tác mà ta có quan hệ, trong bất kỳ tình huống nào cũng tránh không để rơi vào thế đối đầu, cô lập hay lệ thuộc, củng cố hoà bình, an ninh, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển.
Những phương châm đối ngoại bao gồm: Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, coi đó là lợi ích cao nhất, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng thực tế của ta. Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, phù hợp với từng đối tượng, trên từng vấn đề và ở từng thời điểm; cố gắng thúc đẩy mặt hợp tác, đấu tranh để hợp tác, tránh trực diện đối đầu, tự đẩy mình vào thế cô lập; Chú trọng hợp tác khu vực (bao gồm các nước láng giềng có chung biên giới, các nước trong khu vực Đông Nam Á và các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương); đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước, trong đó có quan hệ với các nước lớn; chủ động tham gia các tổ chức đa phương khu vực và toàn cầu; Kết hợp chặt chẽ quan hệ ngoại giao của Nhà nước với quan hệ đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhân dân.
Đại hội XI nhấn mạnh thúc đẩy các quan hệ đối tác đã được thiết lập đi vào chiều sâu nhằm tạo thế đan xen lợi ích, xây dựng các mối quan hệ thực chất, ổn định lâu dài; thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước Châu Á - Thái Bình Dương; củng cố quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới...
Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả, tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới; tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh công tác văn hoá đối ngoại và thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước. Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền, kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” can thiệp vào công việc nội bộ, an ninh và ổn định chính trị của nước ta.
Cùng với việc nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, Đại hội XI khẳng định quan điểm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Chủ động hội nhập kinh tế trước hết là chủ động trong đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế nói riêng; là chủ động nắm vững quy luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh, xác định lộ trình, nội dung, quy mô, bước đi phù hợp, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế quốc tế. Chủ động còn bao hàm sự sáng tạo, lựa chọn phương thức hành động đúng, dự báo được những tình huống trong hội nhập kinh tế.
Tích cực hội nhập kinh tế là khẩn trương chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mới bên trong từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn, từ trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng lộ trình, kế hoạch, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật... là không duy trì quá lâu các chính sách bảo hộ của Nhà nước, khắc phục nhanh tình trạng trông chờ, ỷ lại sự bao cấp của Nhà nước.
Chủ động hội nhập quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân. Trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng. Cần kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ "diễn biến hoà bình" đối với nước ta.
MC: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí Nguyễn Viết Thảo !
Thưa quý vị và các bạn, chúng ta vừa được nghe cuộc trao đổi và trò chuyện về những thông tin quan trọng, những điểm mới trong các Văn kiện Đại hội XI do 3 vị khách mời: PGS-TSKH Nguyễn Văn Đặng, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương, Thường trực Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội XI; PGS-TS Nguyễn Viết Thông, Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương, Thường trực Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội XI và PGS-TS Nguyễn Viết Thảo, Tổng Biên tập Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trình bày.

Một lần nữa xin được trân trọng cảm ơn sự có mặt và tham gia buổi Tọa đàm của các đồng chí!
Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của quý vị và các bạn !






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét