Thứ Năm, 23 tháng 5, 2019

DI SẢN PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN CHO NHÂN LOẠI TẠI VIỆT NAM


KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN?


Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế tuân theo các quy luật của nền kinh tế thị trường vừa chịu sự chi phối của các yếu tố đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa".
 ----------
Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không phải là cái khác biệt mà đó vẫn là “nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật khách quan của kinh tế thị trường” như quy luật tự do cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị; thực hiện tự do hoá thương mại,...
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường đó không phải là kinh tế thị trường tự do mà có sự điều tiết, quản lý của nhà nước XHCN Việt Nam, bảo đảm định hướng XHCN nền kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước trên nguyên tắc tuân thủ và tôn trọng các nguyên tắc của thị trường.
Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; thực hiện sự điều tiết ở tầm vĩ mô, “định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch” bảo đảm cho thị trường phát triển lành mạnh, tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường, tương thích với thông lệ của các nước; “sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển”(6).
Thông qua những chính sách kinh tế, những biện pháp tài chính cần thiết, nhà nước phát huy cao độ những mặt tích cực, những ưu thế của nền kinh tế thị trường, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho thị trường phát triển mạnh mẽ hơn và lành mạnh hơn, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2019

GIÁO TRÌNH NÔN "ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CS VIỆT NAM" - 2016


GIÁO TRÌNH
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
(Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng
khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh)
----------------

Chương mở đầu:

ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


I. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu
a) Khái niệm "đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việc Nam"
Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ngày 3 - 2 - 1930. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân. nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ thức cơ bản.

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

TÍN DỤNG ĐEN - CHỈ THỊ 12/CT-TTg, 25/4/2019

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------
Số: 12/CT-TTg
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2019
  CHỈ THỊ
VỀ TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH VỚI TỘI PHẠM VÀ VI PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG “TÍN DỤNG ĐEN”

Thời gian qua, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen” xảy ra tại nhiều địa phương, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự với thủ đoạn rất tinh vi, phức tạp. Các đối tượng lợi dụng mạng viễn thông, Internet, núp bóng các doanh nghiệp có chức năng cho vay tài chính, dịch vụ đòi nợ, kinh doanh cầm đồ, tạo vỏ bọc, đối phó với cơ quan chức năng để tổ chức các hoạt động cho vay không thế chp, huđộng vốn, kinh doanh tài chính, góp vốn, góp tài sản kinh doanh với lãi suất rất cao (từ 100% đến 300%, thậm chí lên đến 700%/năm đối vớkhoản tiền ở thời điểm vay) nhằm thu lợi bất chính. Thực tế cho thấy, “tín dụng đen” là hình thức cho vay, đi vay hoặc huy động vốn với lãi suất vượt quá mức lãi suất pháp luật quy định, được thực hiện bởi các cá nhân, nhóm người hoặc tổ chức kinh doanh dịch vụ tài chính, thường gắn với các hành vi đòi nợ, chiếm đoạt tài sản trái pháp luật. Chủ nợ thường thuê các băng nhóm tội phạm, đối tượng có tiền án, tiền sự sử dụng vũ khí, hung khí nguy him có thể thực hiện các tội phạm xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tổn hại về tinh thần và chiếm đoạt, hủy hoại tài sản của người đi vay, gây lo lắng, bức xúc trong nhân dân.

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

MẪU KIỂM ĐIẾM ĐẢNG VIÊN 2018

ĐẢNG BỘ …………
Chi bộ: …………
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
…….., ngày…… tháng…… năm2018


Mẫu số 02-HDKĐĐG 2018
 
 BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂN
Năm 2018

Họ và tên: ……….…  Ngày sinh: …
Chức vụ Đảng: ……………………..
Chức vụ chính quyền: …………….
Chức vụ đoàn thể: …..…………….
Đơn vị công tác: …………………..
Chi bộ………………………………
I- Ưu điểm, kết quả đạt được
1- Về phẩm chất chính trị; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc:
- Tư tưởng chính trị: Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng; chấp hành, tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc học tập các chỉ thị, nghị quyết, tham gia các đợt sinh hoạt chính trị để nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng.

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018

MÔN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - TRẮC NGHIỆM


CÂU HỎI ÔN TẬP
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
--------------
Câu 1: Ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh là gì?
a. Nước được độc lập.
b. Dân được tự do.
c. Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành.
d. Cả a, b, c. 
Câu 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường CM Việt Nam được hình thành cơ bảo vào thời gian nào?
a. 1920; b. 1930; c. 1945; d. 1925
Năm 1930
Câu 3: Trong khoảng thời gian 1924-1927, Bác Hồ hoạt động cách mạng ở đâu?
a. Pháp; b. Thái Lan; c. Liên Xô; d. Trung Quốc
Trung Quốc.
Câu 4. Ý nghĩa của môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sinh viên?
a. Bồi dưỡng đạo đức CM, nâng cao bản lĩnh chính trị
b. Bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường
c. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác
d. Nâng cao lòng tự hào, kính yêu Bác
a và c
Câu 5. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh mong muốn điều cuối cùng của mình là gì?
a. Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
b. Xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh
c. Làm cho mọi người dân hạnh phúc
d. Tất cả các nội dung trên
Câu a.
Câu 6. Trong các tác phẩm sau đây, tác phẩm bào không phải của Hồ Chí Minh?
a. Đường Cách mệnh (1927)
b. Con rồng tre (1927)
c. Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)
d. Đông Dương chính trị luận (1925)
Câu d.

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

HỒ SƠ THỦ TỤC KẾT NẠP ĐẢNG VIÊN 2018


DANH MỤC HỒ SƠ KẾT NẠP ĐẢNG
-----------------
I. Hồ sơ kết nạp Đảng
1.     Lý lịch của người xin vào Đảng
2.     Đơn xin vào Đảng (viết tay, không được đánh máy)
3.     Giấy giới thiệu người ưu tú vào Đảng (2 đảng viên chính thức giới thiệu đối với người không còn tuổi sinh hoạt đoàn thanh niên)
4.     Nghị quyết giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng (đối với người đang sinh hoạt đoàn thanh niên)
5.     Nhận xét của đoàn thể:
+ Tổ Công đoàn nơi người xin vào Đảng trực tiếp sinh hoạt và Ban chấp hành Công đoàn (nếu người xin vào đảng đã hết tuổi sinh hoạt đoàn thanh niên);
+ Chi đoàn nơi người xin vào Đảng trực tiếp sinh hoạt (nếu người xin vào Đảng còn tuổi sinh hoạt đoàn thanh niên)
6.     Nhận xét của nơi cư trú
7.     Tổng hợp ý kiến nhận xét của đoàn thể và nơi cư trú
8.     Giấy chứng nhận học lớp nhận thức về Đảng
9.     Xác nhận thẩm tra lý lịch đối tượng kết nạp Đảng
10.  Biên bản họp chi bộ xét kết nạp quần chúng ưu tú vào Đảng và Nghị quyết
                     -----------------------------------

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2018

NQ TW7 KHÓA XII, NHỮNG ĐIỂM MỚI


ĐỀ CƯƠNG BÀI THU HOẠCH HỌC TẬP QUÁN TRIỆT NQ TW7

Nội dung bài thu hoạch cần trình bày ngắn gọn, tập trung thể hiện nhận thức cá nhân về thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân), những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải pháp trong các nghị quyết của Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng; liên hệ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và cá nhân. Chú trọng đề xuất, kiến nghị về các biện pháp thực hiện tại đơn vị, doanh nghiệp và trách nhiệm cụ thể của cá nhân. Việc tham gia học tập, quán triệt nghị quyết và viết thu hoạch cá nhân là một căn cứ đánh giá, phân loại, bình xét thi đua cuối năm của các đơn vị.
----------------
Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 7/5 đến ngày 12/5/2018, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7 khóa XII. Hội nghị đã thông qua 3 Nghị quyết quan trọng về công tác cán bộ, cải cách chính sách tiền lương và cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
Ngày 19/5/2018, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Trong đó, Trung ương xác định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, 2 trọng tâm và 5 đột phá. 
Mục tiêu tổng quát xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
Tiếp đó, ngày 21/5/2018, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp, trong đó nêu rõ 7 nhiệm vụ giải pháp chủ yếu để thực hiện.
Mục tiêu đặt ra là xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm đời sống của người hưởng lương và gia đình người hưởng lương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Ngày 23/5/2018, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
Nghị quyết về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội hướng đến mục tiêu để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân.
Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch.
Trong các Nghị quyết, Nghị quyết số 26- NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Đây là một trong những Nghị quyết rất quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết số 26- NQ/TW có một số điểm mới sau đây:
Một là, về quan điểm, Nghị quyết lần này khẳng định rõ cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Mặc dù quan điểm này đã được Đảng ta nhiều lần đề cập, song trong bối cảnh hiện nay khi công tác cán bộ nhiều nơi còn đơn giản, có xu hướng khoán trắng cho ngành tổ chức xây dựng Đảng thì vấn đề này lại hết sức thời sự. Một điểm mới được xác định trong Nghị quyết là đặt việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược trở thành một trọng tâm trong công tác cán bộ, là vấn đề hệ trọng của Đảng, phải tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Như vậy, công tác cán bộ không thể tiến hành theo phong trào mà phải làm thường xuyên, liên tục một cách khoa học. Tiếp cận công tác cán bộ trên quan điểm hiệu quả cũng là vấn đề mới được đặt ra trong Nghị quyết lần này. Từ góc độ hiệu quả cho thấy cần đánh giá cán bộ bằng sản phẩm cụ thể. Đánh giá cán bộ vì thế trở thành khâu đột phá trong công tác cán bộ.
Nghị quyết cũng bổ sung quan điểm mới, đó là xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, cơ chế và điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm. Điểm mới nổi bật của quan điểm này là nhận diện và xác định cách thức giải quyết hai mối quan hệ giữa chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương với xây dựng thể chế, tạo môi trường thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo của cán bộ; giữa phân cấp, phân quyền với kiểm tra, giám sát, ràng buộc quyền hạn với trách nhiệm, kiểm soát quyền lực, xử lý nghiêm sai phạm. Trong đó, cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung là một điểm thể hiện tinh thần đổi mới mạnh mẽ của Trung ương lần này.
Hai là, về mục tiêu, Nghị quyết Trung ương 7 về công tác cán bộ đã xác định rõ mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược trong thời gian tới phải có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền kinh tế số, kinh tế tri thức và ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Đồng thời, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong bối cảnh tình hình trong nước, khu vực và thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Nghị quyết cũng xác định mục tiêu và tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ trong từng lĩnh vực cho từng giai đoạn. Trong đó, có những chỉ tiêu rất mới như: đến năm 2030, đối với cán bộ cấp chiến lược, yêu cầu phải thực sự tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, phẩm chất, năng lực và uy tín; trên 15% dưới 45 tuổi; từ 40 - 50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương: Từ 15 - 20% cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh dưới 40 tuổi, từ 25 - 35% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; từ 20 - 25% cán bộ lãnh đạo chủ chốt và ủy viên ban thường vụ cấp ủy cấp huyện dưới 40 tuổi. Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã: 100% có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn hóa về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác... Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước: Nâng cao tính Đảng và ý thức tuân thủ pháp luật; sản xuất, kinh doanh hiệu quả; từ 70 - 80% có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.  Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tỷ lệ nữ cấp ủy viên các cấp đạt từ 20 - 25%; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp đạt trên 35%. Ở những địa bàn có đồng bào dân tộc thiểu số, phải có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số phù hợp với cơ cấu dân cư…
Ba là, về nhiệm vụ và giải pháp, Nghị quyết nhấn mạnh đến việc nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ; Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; Chống chạy chức, chạy quyền; Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ và nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ. Trong đó có những điểm nhấn rất mới như: Trung ương yêu cầu phải có phương pháp đánh giá cán bộ một cách khách quan, chính xác; có cơ chế tạo động lực, đổi mới sáng tạo, rèn luyện qua thực tiễn có nhiều khó khăn, thách thức lớn của đội ngũ cán bộ và đề cao giải pháp kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ địa phương, họ hàng trong công tác cán bộ; Coi đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để đấu tranh ngăn chặn sự tha hóa quyền lực trong bộ máy công quyền, sự suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên để củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Một điểm mới nữa, Nghị quyết lần này xác định rõ 2 trọng tâm và 5 đột phá trong công tác cán bộ.  
Hai trọng tâm là: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực.
Năm đột phá là: Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền. Thực hiện nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương ở những nơi đủ điều kiện. Cải cách chính sách tiền lương và nhà ở để tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; có cơ chế, chính sách để tạo cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và thu hút, trọng dụng nhân tài. Hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.
Trên đây là những điểm mới của Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XII) so với Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Liên hệ với tình hình thực tiễn tại đơn vị và những giải pháp cơ bản để thực hiện Nghị quyết:
1. Đặc điểm tình hình Công ty
2. Nội dung giải pháp về công tác cán bộ tại Chi bộ công ty
3. Đề xuất với cấp ủy cấp trên (nếu có)

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2018

CÁC NGHỊ QUYÊT BCH TW KHÓA XII


CÁC NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ BCH TW KHÓA XII

HỘI NGHỊ
Nội dung Nghị quyết BCHTW khóa XII

HN TW3

HỘI NGHỊ TW 4





HỘI NGHỊ TW5



HỘI NGHỊ TW 6




HỘI NGHỊ TW 7