Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

PHỤ CẤP CƠ QUAN ĐẢNG, ĐOÀN THỂ

         BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG       ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
                      BAN TỔ CHỨC
                                  *                                   Hà Nội, ngày 01 tháng 7 năm 2011
                     Số: 05-HD/TCTW

HƯỚNG DẪN
thực hiện một số chế độ phụ cấp đối với cán bộ, công chức
cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội và tiền lương
của Hội Cựu chiến binh Việt Nam
---

- Căn cứ Quyết định số 78-QĐ/TW, ngày 21 tháng 8 năm 2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Tổ chức Trung ương;
- Căn cứ kết luận tại Thông báo số 13-TB/TW, ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ Chính trị về việc sửa đổi những bất hợp lý về tiền lương, phụ cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội (sau đây gọi tắt là Thông báo số 13-TB/TW);
- Sau khi trao đổi, thống nhất với Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan, Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn việc thực hiện một số chế độ phụ cấp đối với cán bộ, công chức và người lao động công tác trong cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội và chế độ tiền lương của Hội Cựu chiến binh Việt Nam (quy định tại điểm 1, 3, 4, 5, 6 Thông báo số 13-TB/TW), cụ thể như sau :
I. PHỤ CẤP CÔNG TÁC ĐẢNG, ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
1- Phạm vi và đối tượng áp dụng
a) Phạm vi áp dụng
Hướng dẫn này quy định về chế độ phụ cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị - xã hội đối với cán bộ, công chức và người lao động trong biên chế được giao, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm :
- Các cơ quan tham mưu giúp việc của Đảng: văn phòng, tổ chức, dân vận, tuyên giáo, đối ngoại và các đảng uỷ trực thuộc từ Trung ương đến cấp huyện.
- Các cơ quan: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam từ Trung ương đến cấp huyện.
- Các cơ quan Ban Chỉ đạo: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.
b) Đối tượng áp dụng
- Cán bộ, công chức, người lao động làm việc ở các cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cấp huyện hưởng lương từ ngân sách nhà nước quy định tại điểm a, khoản 1, Mục I của Hướng dẫn này.
- Cán bộ, công chức và người lao động công tác ở ủy ban kiểm tra các cấp chưa được hưởng và không thuộc đối tượng hưởng phụ cấp trách nhiệm nghề và phụ cấp thâm niên nghề.
- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 năm (12 tháng) trở lên trong cơ quan của đảng, đoàn thể chính trị - xã hội đã được xếp lương theo các bảng lương do Nhà nước quy định thuộc chỉ tiêu biên chế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
c) Đối tượng không áp dụng 
- Cán bộ, công chức và người làm chuyên trách công tác đảng, đoàn thể chính trị - xã hội trong các cơ quan, đơn vị của Nhà nước, lực lượng vũ trang.
- Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong đơn vị sự nghiệp của Đảng; doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp của cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội.
- Cán bộ, công chức nghỉ chờ đủ tuổi để nghỉ hưu theo Nghị định số 67/2010/NĐ-CP, ngày 15-6-2010 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
- Cán bộ, công chức giữ chức vụ bầu cử, bổ nhiệm có lương chức vụ từ 9,70 trở lên hoặc có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 1,20 trở lên.
- Cán bộ, công chức công tác ở cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp đang hưởng phụ cấp trách nhiệm nghề, hoặc phụ cấp trách nhiệm nghề và phụ cấp thâm niên nghề.
- Người được xếp lương theo cấp hàm cơ yếu.
2- Mức phụ cấp: Bằng 30% của mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).
3- Nguyên tắc thực hiện
a) Phụ cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị - xã hội được chi trả cùng kỳ lương hằng tháng và không dùng để tính đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
b) Thời gian không được tính hưởng phụ cấp bao gồm :
- Thời gian đi công tác, làm việc, học tập ở nước ngoài theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, ngày 14-12-2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
- Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương liên tục từ 01 tháng (30 ngày) trở lên.
- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Thời gian cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam, tạm đình chỉ công tác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
c) Khi thôi công tác (làm việc) ở cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp (từ Trung ương đến cấp huyện) thì thôi hưởng phụ cấp từ tháng tiếp theo.
II. PHỤ CẤP TRÁCH NHIỆM CÔNG TÁC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ
1- Cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ các cấp (từ Trung ương đến cấp huyện) được hưởng phụ cấp trách nhiệm như sau :
- Mức 0,5 của mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ thuộc Vụ Bảo vệ chính trị nội bộ Ban Tổ chức Trung ương và lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương phụ trách công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
- Mức 0,3 của mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ thuộc phòng bảo vệ chính trị nội bộ ban tổ chức các tỉnh ủy, thành uỷ và lãnh đạo ban tổ chức các tỉnh ủy, thành uỷ phụ trách Phòng Bảo vệ chính trị nội bộ.
- Mức 0,2 của mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với 01 cán bộ, công chức làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ cấp huyện; riêng các quận, huyện thuộc TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh không quá 03 cán bộ, công chức.
2- Phụ cấp trách nhiệm công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chi trả cùng kỳ lương hằng tháng và không dùng để tính đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; khi thôi làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ thì thôi hưởng phụ cấp trách nhiệm từ tháng tiếp theo.
III. PHỤ CẤP CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO
1- Đối với chức danh phó trưởng đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương (trừ chức danh Bí thư Trung ương Đoàn); phó bí thư các tỉnh uỷ, thành uỷ (trừ TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh), phó bí thư đảng ủy trực thuộc Trung ương hưởng hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo 1,30.
2- Đối với chức danh phó trưởng các ban đảng ở Trung ương đã giữ chức vụ bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương (trừ TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh) hưởng hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo 1,40.
IV. TIỀN LƯƠNG CỦA CÁN BỘ CHUYÊN TRÁCH HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM
1- Cán bộ giữ chức danh lãnh đạo (bầu cử, bổ nhiệm) chuyên trách Hội Cựu chiến binh Việt Nam các cấp (từ Trung ương đến cấp huyện) hằng tháng được hưởng 100% của “mức lương chuẩn” (Bảng 7 ban hành kèm theo Quyết định số 128-QĐ/TW, ngày 14-12-2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức cơ quan đảng, mặt trận và các đoàn thể) cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo bằng phụ cấp chức vụ lãnh đạo của các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp.
2- Cán bộ được bầu tái cử hoặc được tái bổ nhiệm cùng chức vụ từ nhiệm kỳ thứ hai (đủ 60 tháng) được hưởng thêm 5% “mức lương chuẩn” của chức danh đảm nhận.
3- Cán bộ là bộ đội phục viên, xuất ngũ chưa hưởng trợ cấp một lần thì được đóng, hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Nguồn kinh phí chi trả chế độ lương và phụ cấp quy định tại Hướng dẫn này được sử dụng từ nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương năm 2011 theo quy định. Từ năm 2012 trở đi, nguồn kinh phí chi trả chế độ lương và phụ cấp quy định tại Hướng dẫn này được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước của các cơ quan, đơn vị.
2- Chế độ lương và phụ cấp quy định tại Hướng dẫn này được hưởng từ ngày 01-01-2011.
3- Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương; các cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Hướng dẫn này.
4- Các quy định trước đây trái với Hướng dẫn này đều bãi bỏ.
Hướng dẫn này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Ban Tổ chức Trung ương xem xét, giải quyết.

K/T TRƯỞNG BAN
PHÓ TRƯỞNG BAN
(đã ký)
                                                                                             Nguyễn Văn Quynh
 --------------------------------------

Bảng 7
BẢNG MỨC LƯƠNG CHUẨN
Áp dụng đối với các chức vụ lãnh đạo
Hội Cựu chiến binh từ Trung ương đến cấp huyện
(Ban hành kèm theo Quyết định số 128-QĐ/TW, ngày 14-12-2004
 của Ban Bí thư Trung ương Đảng)

Đơn vị tính: 1.000 đồng
STT
Chức danh
Mức lương chuẩn
Mức lương thực hiện 01/10/2004
Ngạch, bậc
Hệ số
   1
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Bậc 2 Chuyên viên cao cấp
6,56
1.902,4
2
Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Bậc 1 Chuyên viên cao cấp
6,20
1.798,0
3
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
Bậc 4 Chuyên viên chính
5,42
1571,8
4
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố còn lại
Bậc 3 Chuyên viên chính
5,08
1.473,2
5
Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
Bậc 2 Chuyên viên chính
4,74
1.374,6
6
Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố còn lại
Bậc 1 Chuyên viên chính
4,40
1.276,0
7
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố thuộc tỉnh là đô thị loại II
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Đô thị loại III, quận thuộc thành phố Hà Nội, quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
Bậc 5
 Chuyên viên
3,66
1.061,4
8
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện, thị xã và quận còn lại;
Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố thuộc tỉnh là đô thị loại II
Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Đô thị loại III, quận thuộc thành phố Hà Nội, quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
Bậc 4
 Chuyên viên
3,33
956,7
9
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện, thị xã và quận còn lại
Bậc 3
 Chuyên viên
3,00
870,0
______________
          Ghi chú:
            1- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, đang hưởng lương hưu, được hưởng bằng 90% mức lương chuẩn và phụ cấp  chức vụ lãnh đạo (1,50).
            2- Trưởng ban, Phó trưởng ban và tương đương thuộc cơ quan Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam đang hưởng lương hưu được hưởng bằng 90% mức lương chuẩn và phụ cấp  chức vụ lãnh đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
            3- Trưởng ban, Phó trưởng ban và tương đương thuộc Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội,  Thành phố Hồ Chí Minh đang hưởng lương hưu được hưởng bằng 90% mức lương chuẩn và phụ cấp  chức vụ lãnh đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận thuộc thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
4- Trưởng ban, Phó trưởng ban và tương đương thuộc Hội Cựu chiến binh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang hưởng lương hưu được hưởng bằng 90% mức lương chuẩn và phụ cấp  chức vụ lãnh đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận, huyện, thị xã còn lại.

-----------------------------------------


Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

BIỂN ĐÔNG VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ


Lợi ích kinh tế từ Biển Đông

Để đạt mục tiêu năm 2020, kinh tế biển đóng góp 53-55% GDP và 55-60% kim ngạch xuất khẩu, cải thiện đời sống dân cư vùng biển và ven biển, bảo đảm an sinh xã hội, cần đổi mới tư duy phát triển, khai thác lợi thế địa - chiến lược của nước ta.
Kỳ I: Tiềm năng kinh tế của Biển Đông
Biển Đông Biển Đông nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương là vùng biển nằm giữa các nước: Trung Quốc ở phía Bắc, Philippines ở phía Đông, Malaysia, Brunei và Indonesia ở phía Nam, Việt Nam ở phía Tây. Biển Đông có nhiều đảo và bãi đá ngầm, tạo thành 4 quần đảo chính:  quần đảo Đông Sa (Pratas), quần đảo Trung Sa (Macclesfield) – theo cách gọi của Trung Quốc; quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và quần đảo Trường Sa (Spratly) - theo cách gọi của Việt Nam. Đây là khu vực có sự tranh chấp chủ quyền khá phức tạp giữa các nước: Việt Nam và Trung Quốc tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa (do Trung Quốc xâm chiếm của Việt Nam năm 1974); Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei tranh chấp chủ quyền một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Điều vô lý và trắng trợn là, từ ngày 7/5/2009, Trung Quốc lần đầu tiên công khai tuyên bố bản đồ 9 đoạn đứt khúc, còn gọi là “đường lưỡi bò”, vốn được chính quyền Quốc Dân Đảng vẽ ra năm 1947, hòng nuốt 80% diện tích cả Biển Đông.
Căn cứ các bằng chứng lịch sử và luật pháp quốc tế, Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS), nước ta có chủ quyền và trên thực tế, đang tiến hành thăm dò và khai thác dầu khí, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, vận tải hàng hóa và du lịch, nghiên cứu khoa học trên vùng biển thuộc chủ quyền khoảng trên 1 triệu km2, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Biển Đông có ý nghĩa chiến lược với nhiều nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á, là tuyến hàng hải đi qua eo Malacca với trên 60% tổng lượng vận chuyển năng lượng và nguyên liệu bằng đường biển của thế giới. Khối lượng vận tải dầu và khí hóa lỏng đi qua eo Malacca gấp 3 lần qua kênh đào Suez và gấp 15 lần qua kênh đào Panama. Nhật Bản mỗi năm có hàng trăm triệu tấn hàng hóa nhập và xuất khẩu được vận chuyển qua tuyến hảng hải này (trong đó có 70 - 80% năng lượng và khoáng sản nhập khẩu). Tuyến hàng hải này cũng có tầm quan trọng đối với Hàn Quốc, Đài Loan, ngày càng quan trọng hơn đối với Trung Quốc. Vì vậy, Biển Đông dễ phát sinh điểm nóng và là vấn đề nhạy cảm.
Biển Đông có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Trên vùng biển Việt Nam, hiện đã biết tới 35 loại khoáng sản (nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý…). Trữ lượng dầu khí khu vực Biển Đông (bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa) được đánh giá rất khác nhau. Chẳng hạn, Mỹ (USGS 1993 -1994) dự báo, trữ lượng dầu khí khu vực Biển Đông khoảng 28 tỷ thùng dầu và khí (quy dầu); Các cơ quan nghiên cứu của Trung Quốc dự báo trữ lượng khoảng 105 - 231 tỷ thùng. Gần đây, Thời báo Hoàn cầu (Trung Quốc) cho rằng, Biển Đông có trữ lượng 50 tỷ tấn dầu thô, hơn 20.000 tỷ m3 khí đốt, gấp 25 lần trữ lượng dầu và 8 lần trữ lượng khí đốt hiện có của Trung Quốc.
Cũng có những đánh giá kém lạc quan hơn. “Quỹ nghiên cứu Biển Đông”cho rằng, đặc điểm địa chất khu vực này làm cho “vùng phía Bắc của Biển Đông do sụt lún trong Kỷ Đệ Tứ quá nhanh, nên không thể hình thành được dầu khí. Khu vực phía Nam lý tưởng hơn, với các nguồn dầu khí chủ yếu nằm trong các khối đá gốc granite với tầng chắn là trầm tích Oligocene và Miocene. Các dạng dầu khí này cũng thuộc dạng rất khó khai thác và nhiều công ty dầu khí đã phải rút lui, nhất là với các lô dầu khí nằm ở phía Bắc của khu vực này”. (BBC - 12/6/2011)
Biển Đông là vùng biển có trữ lượng hải sản lớn. Theo đánh giá của Tổng cục Biển và Hải đảo, trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, có 11.000 loài sinh vật cư trú trong 20 hệ sinh thái thuộc 6 vùng đa dạng sinh học, với trên 2.000 loài cá, 230 loài tôm…, trữ lượng hải sản  khoảng 5 triệu tấn, có thể khai thác bền vững hàng năm 1,5 - 2 triệu tấn, triển vọng nuôi trồng thủy sản rất khả quan.
Vùng biển Việt Nam có nhiều vịnh nổi tiếng thế giới, như Hạ Long, Văn Phong, Nha Trang. Cam Ranh, 2.779 đảo, trong đó có nhiều đảo lớn như Phú Quốc có diện tích hơn 542 km2 ( rộng hơn diện tích của Singapore). Đảo Phú Quý, Đảo Côn Sơn được coi là những “hạm đội nổi” giữa biển. Hiện có 90 cảng biển, khoảng 100 địa điểm có thể xây dựng cảng biển, trong đó có cảng trung chuyển quốc tế, 125 bãi biển, trong đó có 20 bãi biển có cảnh quan đẹp là tiềm năng lớn để phát triển du lịch quốc tế.
Ngoài ra, có thể kể đến những lợi ích kinh tế khác, như phát triển năng lượng gió ở ven biển và trên các đảo, năng lượng từ thủy triều, nguồn năng lượng sạch trong tương lai.
Tháng 2/1992, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Bộ luật Lãnh hải, toàn bộ Biển Đông được coi là thuộc lãnh thổ chủ quyền của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Bộ Luật này xác định các “quyền lịch sử của Trung Quốc” đối với Biển Đông, làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động của Trung Quốc trên Biển Đông:
- Về lợi ích địa - chiến lược: bảo đảm đường giao thông huyết mạch trên Biển Đông, nắm giữ điểm khống chế khu vực Đông Nam Á;
- Về dầu khí: khai thác dầu khí bảo đảm năng lượng cho sự phát triển của Trung Quốc;
- Về nghề cá: bảo đảm ngư trường lớn cho các tỉnh phía Nam của Trung Quốc.
Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc xuất phát từ quan điểm về Biển Đông trong Bộ luật này.
Năm 2010, Trung Quốc trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, sau Mỹ, thứ ba thế giới về thương mại quốc tế, sau Mỹ và Đức. Hiện 60% hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc được vận chuyển qua tuyến hàng hải này. Hàng năm, Trung Quốc khai thác nhiều triệu tấn hải sản ở Biển Đông, do đó, vùng biển này có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia đông dân nhất thế giới.
Trong điều kiện các nước công nghiệp phát triển đã phân chia thị trường thế giới, là nước đi sau, Trung Quốc tận dụng lợi thế từ dự trữ ngoại tệ trên 3.000 tỷ USD và tầm ảnh hưởng của mình để thâm nhập các thị trường cũ, khai thác thị trường mới nhằm thỏa mãn nhu cầu năng lượng và nguyên liệu gia tăng nhanh của nước này.
Năm 2009, Trung Quốc vượt Mỹ trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất từ Trung Đông. Năm 2010, Trung Quốc sử dụng 439 triệu tấn dầu thô, tăng 13,1% so với năm 2009, lập kỷ lục mới về tốc độ tăng kể từ năm 2005, trong đó, 260 triệu tấn (chiếm tỷ lệ 55%) được nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Đông và Bắc Phi. Trong bối cảnh khu vực này đang xảy ra bất ổn về chính trị và triển vọng không mấy sáng sủa, nguyên Chủ tịch Tập đoàn Dầu mỏ quốc gia Trung Quốc Trần Canh cảnh báo: “Những bất ổn ở Bắc Phi và Trung Đông sẽ ảnh hưởng tới nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc. Nếu bất ổn kéo dài, thì Trung Quốc sẽ hứng chịu nhiều tổn thất”, bởi “nguồn dự trữ chỉ đủ dùng trong mươi mười lăm ngày một khi có cuộc khủng hoảng về nguồn cung xảy ra”.
Do vậy, Trung Quốc đang đẩy nhanh việc thăm dò và khai thác dầu khí ở Biển Đông, để giảm phụ thuộc vào nguồn dầu lửa nhập khẩu. Mạng Jamestown Foundation (Mỹ) cho biết, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã đề nghị chính phủ nước này đầu tư 30 tỷ USD từ nay đến năm 2020 cho các dự án thăm dò và khai thác năng lượng ở Biển Đông.
Cuối năm 2010, Công ty Dầu lửa ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) và BG Group PLC (Anh) thông báo liên doanh này đã tìm thấy cát chứa khí đốt trong lúc khoan thăm dò lần đầu tiên ở độ sâu gần 1.400 m, ở phía Nam đảo Hải Nam. CNOOC và Husky Energy Inc (Canada) dự kiến triển khai dự án khai thác vào năm 2013, sau khi phát hiện lượng khí đốt lớn ở độ sâu 3.000 m so với mặt biển. Dự án đầu tư của BP, CNOOC và Công ty Thăm dò khai thác dầu lửa nước ngoài của Kuwait trên Biển Đông là nguồn năng lượng chủ yếu, phục vụ các trạm phát điện của Hongkong (mỗi năm, sản xuất khoảng 124 tỷ feet khối khí đốt).
Theo báo The Chosun Ilbo (Hàn Quốc) ngày 13/6/2011, Trung Quốc đã chi hơn 900 triệu USD và mất hơn 3 năm để xây dựng giàn khoan có tên “Dầu khí Hải dương 981”, mà báo Mainichi (Nhật Bản) gọi là “tàu sân bay dầu khí”, được coi là một trong những giàn khoan lớn và hiện đại nhất thế giới hiện nay, đã được triển khai từ cuối tháng 5/2011 ở biển Hoa Đông, dưới sự hộ tống của các tàu bảo vệ và tàu lai dắt để thử nghiệm trước khi chuyển đến Biển Đông, chi phí hoạt động cho giàn khoan này có thể lên tới 1 triệu USD/ngày
Kỳ II: Bảy kiến nghị khai thác lợi thế địa - chiến lược
Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X năm 2007 đã đề ra chủ trương và định hướng phát triển kinh tế biển, đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển.
Trên cơ sở đó, một số văn bản pháp quy như Nghị định 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đã được ban hành, nhiều đề án, chương trình có liên quan đến kinh tế biển đang được tiến hành từ điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển, đến quản lý và bảo vệ nguồn lợi về biển, hợp tác quốc tế, đã thu được những kết quả ban đầu đáng khích lệ, như xuất khẩu thủy sản tăng khá nhanh trong 5 năm gần đây; 5 tháng đầu năm 2011 đạt 2,13 tỷ USD, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước; các tỉnh ven biển với những khu nghỉ dưỡng hiện đại, tour du lịch hấp dẫn với khách quốc tế, cộng đồng dân cư đã có ý thức hơn đối với khai thác tài nguyên biển theo hướng bền vững, công tác quy hoạch và quản lý nhà nước đã có chuyển biến theo hướng tích cực.
Tuy vậy, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để thực hiện mục tiêu đã đề ra cho năm 2020.
Tại Diễn đàn Kinh tế biển Việt Nam năm 2011, được tổ chức vào ngày 8/6 ở Nha Trang trong khuôn khổ “Tuần lễ biển Việt Nam”, nhiều nhà khoa học cho rằng, để đạt được mục tiêu năm 2020, kinh tế biển đóng góp 53 - 55% GDP và 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu, cải thiện đời sống dân cư vùng biển và ven biển, bảo đảm an sinh xã hội, thì cần đổi mới tư duy phát triển, khai thác lợi thế địa - chiến lược của nước ta, gắn với đổi mới thể chế theo hướng tiếp cận thể chế tối ưu, để tạo ra không gian sinh tồn, không gian phát triển lâu dài và bền vững cho dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở đó kiến nghị:
Thứ nhất, điều chỉnh để bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của các cảng biển (trung bình cứ 40 - 50 km có 1 cảng), 15 khu kinh tế đã được cấp phép ở các tỉnh ven biển, để tránh “hội chứng khu kinh tế”; những khu kinh tế chưa triển khai, thì nên dừng lại, chưa nên có thêm khu kinh tế mới để tránh đầu tư dàn trải, lãng phí đất đai. Đánh giá khách quan các khu nghỉ dưỡng ven biển, tránh tình trạng chiếm đất, thu hồi những dự án quá chậm triển khai, bảo đảm lợi ích cộng đồng trong việc sử dụng bờ biển.
Thứ hai, cơ cấu ngành nghề kinh tế biển hợp lý, giải quyết các xung đột lợi ích. Ví dụ, khai thác tài nguyên, đánh bắt hải sản, phát triển du lịch biển với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái động thực vật biển. Từ đó, hình thành quy hoạch tổng hợp và thống nhất đối với biển, đảo và vùng ven biển để bảo đảm tính đồng bộ trong thực hiện.
Thứ ba, xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng biển và đảo ở cấp tỉnh, áp dụng hệ tiêu chí đánh giá môi trường biển và hiệu quả kinh tế - xã hội về biển, có tính đến giải pháp ứng phó biến đổi khi hậu và mực nước biển dâng cao, từ đó tăng thêm nguồn lực và phân bố hợp lý nguồn lực cho các vùng kinh tế, từng địa phương, chấm dứt tình trạng khai thác tự phát lãng phí tài nguyên biển, đảo và vùng ven biển.
Thứ tư, nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước về biển theo hướng quản lý tổng hợp vùng bờ biển bằng cơ chế, chính sách liên ngành, vùng kinh tế, quy hoạch không gian theo hướng phát triển bền vững của các vùng chức năng; nhằm đến năm 2020, 28 địa phương ven biển áp dụng phương thức quản lý tổng hợp vùng bờ biển. Thực hiện phân chia ranh giới vùng biển và phân cấp quản lý biển cho chính quyền tỉnh, giao mặt nước biển cho cộng đồng sử dụng, tự quản lý dưới sự hướng dẫn và giảm sát của Nhà nước.
Thứ năm, tiếp cận phương thức quản lý không gian biển trong quản lý biển, đảo thông qua mô hình thực nghiệm và nhân rộng, quản lý tài nguyên và môi trường biển dựa vào cộng đồng; có cơ chế, chính sách và bảo vệ lợi ích cộng đồng dân cư, để họ chủ động tham gia quản lý biển, đảo.
Thứ sáu, coi trọng 3 nhân tố cơ bản trong kinh tế biển: công khai hóa thông tin cập nhật cho cộng đồng doanh nghiệp, dân cư về những vấn đề có liên quan đến biển, đảo, chủ quyền quốc gia; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên biển và quản lý nhà nước theo hướng phát triển bền vững bằng cơ chế, chính sách thích ứng với trình độ phát triển kinh tế biển để khai thác mọi nguồn lực, bảo đảm thực hiện các mục tiêu của chiến lược kinh tế biển.
Thứ bảy, hợp tác quốc tế, nhất là với các nước ASEAN, với các nước có lợi ích ở Biển Đông, coi trọng phương châm “cân bằng quyền lực” trong khu vực để xử lý các tranh chấp chủ quyền và các sự kiện gây căng thẳng, bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc trong một thế giới vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và xung đột lợi ích.
Thực hiện thành công Chiến lược Kinh tế biển đến năm 2020, không những góp phần quan trọng vào mục tiêu đưa nước ta trở thành nước về cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020, mà còn nâng cao đáng kể vị thế địa - chiến lược của nước ta trong khu vực: “Trước mặt Thái Bình Dương sóng vỗ/Phơi phới bay cờ đỏ sao vàng/Chúng ta đứng thẳng hiên ngang/Sáng ngời một ngọn hải đăng hòa bình” - Tố Hữu.
                                 
GS. TSKH Nguyễn Mại

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

THOẢ ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ


I. Những tác dụng cơ bản của Thoả ước lao động tập thể trong quan hệ lao động?
Thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động. Chính vì vậy, Thoả ước lao động tập thể có những tác dụng rất lớn trong quan hệ lao động:
1. Là công cụ cụ thể hóa các quy định của pháp luật phù hợp với tính chất, đặc điểm của doanh nghiệp; làm cơ sở pháp lý quan trọng để doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động.
2. Tạo nên sự cộng đồng trách nhiệm của hai bên trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở pháp luật lao động; tạo điều kiện cho người lao động thông qua sức mạnh tập thể để thương lượng đạt được những lợi ích cao hơn so với quy định của pháp luật.
3. Là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên quan hệ lao động. Trên cơ sở đó, xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
4. Tạo điều kiện cho tổ chức công đoàn nâng cao vai trò, vị trí trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công đoàn.
II. Thoả ước lao động tập thể bao gồm những nội dung gì?
Thoả ước lao động tập thể bao gồm 7 nội dung sau:
1- Việc làm và đảm bảo việc làm
Nội dung này phải cụ thể, rõ ràng về các hình thức và thời hạn sẽ tiến hành ký hợp đồng lao động cho từng loại công việc, từng chức danh và bậc thợ trong doanh nghiệp. Các nguyên tắc và chế độ cụ thể khi tuyển dụng, thay đổi nơi làm việc, nâng cao tay nghề, đào tạo, ký lại hợp đồng lao động. Những biện pháp bảo đảm việc làm, chế độ cho công nhân khi doanh nghiệp thu hẹp phạm vi sản xuất. Quyền hạn và trách nhiệm của đại diện tập thể lao động trong việc giám sát thực hiện và giải quyết tranh chấp về HĐLĐ.
2- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Cần quy định cụ thể thời giờ làm việc tối đa cho từng bộ phận, chức danh công việc; nguyên tắc huy động và thời gian cho phép làm thêm giờ, tiền lương trả cho người lao động khi làm thêm giờ, phương thức trả, đơn giá trả lương cho thời gian làm thêm.
Một trong những vấn đề quan trọng của nội dung này là chế độ đối với người lao động khi nghỉ phép năm, tiền lương trả cho họ vì công việc mà không nghỉ phép năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày được nghỉ.
3- Tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp lương
Thoả thuận mức tiền lương, phụ cấp lương cụ thể cho từng công việc phù hợp với khả năng, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là phải thoả thuận mức lương tối thiểu, mức lương trung bình doanh nghiệp trả cho người lao động, phương thức điều chỉnh tiền lương khi giá cả thị trường biến động, nguyên tắc nâng bậc lương, thời gian trả lương, nguyên tắc chi thưởng, mức thưởng.
4- Định mức lao động
Việc xác lập định mức lao động tương ứng với xác định đơn giá tiền lương phải phù hợp với từng loại công việc, từng loại nghề trên cơ sở điều kiện thực tế về tính chất, mức độ phức tạp hay nặng nhọc của công việc và khả năng thực hiện định mức, nguyên tắc thay đổi định mức.
5- An toàn lao động, vệ sinh lao động
Thoả thuận cụ thể về nội quy an toàn, vệ sinh lao động và các quy định về bảo hộ lao động, biện pháp cải thiện điều kiện làm việc; chế độ đối với người lao động làm những công việc nặng nhọc, độc hại; chế độ trang bị phòng hộ cá nhân, bồi dưỡng sức khoẻ và trách nhiệm bồi thường hoặc trợ cấp đối với người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
6- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Thoả thuận quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi của giám đốc doanh nghiệp và người lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, thu nộp, chi trả các loại bảo hiểm, các chế độ bảo hiểm xã hội mà người lao động được hưởng theo từng loại hợp đồng lao động.

7- Những nội dung thỏa thuận khác: về phúc lợi tập thể; ăn giữa ca; trợ cấp hiếu, hỷ; phương thức giải quyết tranh chấp lao động phát sinh trong quan hệ lao động…

III. Trình tự thương lượng, ký kết thoả ước tập thể?
– Hai bên đưa ra yêu cầu và nội dung cần thương lượng: Những yêu cầu và nội dung đưa ra đòi hỏi phải sát thực tế, khách quan, trên tinh thần hai bên cùng có lợi, tránh đưa ra những yêu cầu và nội dung trái pháp luật, hoặc có tính chất yêu sách đòi hỏi hoặc áp đặt.
– Hai bên tiến hành thương lượng trên cơ sở xem xét các yêu cầu và nội dung của mỗi bên;
– Mỗi bên tổ chức lấy ý kiến phía mình đại diện về dự thảo thoả ước;
– Hai bên hoàn thiện dự thảo và tiến hành ký kết thoả ước khi có trên 50% số người của tập thể lao động trong doanh nghiệp tán thành nội dung của thoả ước.
IV. Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc tổ chức thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể được quy định như thế nào ?
Theo quy định tại Điều 45 Bộ Luật Lao động, tổ chức công đoàn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể. Theo đó:
– Tổ chức công đoàn (Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời) là đại diện cho người lao động tham gia thương lượng thoả ước tập thể.
– Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở (hoặc người do Ban chấp hành công đoàn cơ sở uỷ quyền) là người có thẩm quyền đại diện cho tập thể lao động ký thoả ước lao động tập thể.
– Sau ba tháng thực hiện (đối với thoả ước tập thể có hiệu lực dưới một năm) và sau sáu tháng (đối với thoả ước tập thể có hiệu lực từ một năm đến ba năm), Ban chấp hành công đoàn có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thoả ước.
Như vậy, với chức năng bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động, tổ chức công đoàn lãnh đạo, tổ chức, vận động, tập hợp người lao động tham gia quá trình thương lượng và là đại diện tập thể lao động trực tiếp thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể. Thông qua việc thương lượng và ký kết thoả ước tập thể, công đoàn thể hiện vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng bảo vệ người lao động và đoàn viên của mình. Qua đó, tạo sự tin tưởng, gắn bó của người lao động với tổ chức công đoàn.
V. Người sử dụng lao động từ chối thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể bị xử lý như thế nào?
Theo quy định tại Nghị định số 113/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính phủ. quy định về xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động:
– Người sử dụng lao động từ chối thương lượng để ký kết hoặc từ chối thương lượng sửa đổi, bổ sung thoả ước lao động tập thể khi nhận được yêu cầu của đại diện tập thể người lao động, thì sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả - buộc phải tiến hành thương lượng để ký kết hoặc sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể theo yêu cầu của đại diện tập thể người lao động.
– Sau khi đã ký kết thoả ước lao động tập thể, người sử dụng lao động không đăng ký thoả ước với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh thì sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000. Ngoài ra, còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả - buộc phải tiến hành đăng ký thỏa ước lao động tập thể với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh theo quy định của pháp luật
Theo Liên đoàn LĐVN


Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XI

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 17/3/2011 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 04-HD/BTGTW ngày 25/3/2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương về việc học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Kế hoạch số 11-KH/TU, ngày 25/4/2011 của Tỉnh ủy DakLak về việc học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ khối Doanh nghiệp tỉnh DakLak xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng như sau:
         
A - VỀ QUAN ĐIỂM

- Nắm vững những quan điểm cơ bản, các mục tiêu, nhiệm vụ trong các văn kiện Đại hội, qua đó, tích cực thực hiện một cách sáng tạo trong thực tiễn công tác và đời sống, nâng cao ý chí, tinh thần cách mạng tiến công, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.
- Tạo sự tin tưởng và quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh DakLak lần thứ XV, Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng bộ khối Doanh nghiệp; chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, tạo sự thống nhất về ý chí, hành động trong cán bộ, đảng viên, công nhân viên và người lao động.
- Xây dựng chương trình hành động tập trung vào những nhiệm vụ cơ bản trọng tâm, có tính khả thi cao, hiệu quả và hoàn thành trong nhiệm kỳ.


B - VỀ MỤC TIÊU

Nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, xây dựng doanh nghiệp ổn định, hài hòa, phát triển; xây dựng thương hiệu mạnh, tạo được uy tín và sức cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường. Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng, an ninh. Đảm bảo việc làm, chăm lo cải thiện và nâng cao đời sống, thu nhập cho người lao động; bảo vệ môi sinh, môi trường. Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh; giữ vững vai trò hạt nhân chính trị trong các doanh nghiệp. Thường xuyên củng cố, xây dựng bộ máy quản lý và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh, xây dựng doanh nghiệp vững mạnh toàn diện; góp phần xây dựng tỉnh DakLak phát triển, giàu mạnh.


                               C - MỘT SỐ CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

I. Một số chỉ tiêu:
          Tạo bước đột phá trong sản xuất, kinh doanh, không ngừng nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững.
          - Phấn đấu về mức tăng trưởng kinh tế bình quân của toàn khối đạt trên 15% năm (riêng năm 2011 đạt trên 10%). Trên 80% số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có lãi (riêng năm 2011 đạt trên 70%). Hoàn thành các chỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nước. Thu nhập bình quân của người lao động toàn khối có mức tăng trưởng trên 15%/năm (riêng năm 2011 đạt trên 10%) và ngày càng được cải thiện rõ rệt.
          - Hoàn thành tốt nhiệm vụ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của tỉnh.
          - Có 100% số đơn vị doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
          - Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, tạo nền tảng tinh thần và động lực cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

          Xây dựng Đảng bộ khối Doanh nghiệp trong sạch, vững mạnh.
          - Có trên 77% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh. Trong đó có trên 20% đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Giảm thiểu tổ chức cơ sở đảng yếu kém.
          - Có trên 99% đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ, trên 80% đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ; trong đó 15% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
          - Hàng năm, toàn Đảng bộ kết nạp được trên 170 đảng viên. Có trên 65% tổ chức cơ sở đảng kết nạp được đảng viên mới.
          - Phấn đấu hàng năm kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng đạt trên 50% tổng số đảng viên.

Xây dựng các đoàn thể vững mạnh.
          Lãnh đạo Hội Cựu chiến binh Khối đạt trong sạch, vững mạnh, Đoàn Khối vững mạnh, Công đoàn cơ sở vững mạnh (có trên 70% tổ chức công đoàn cơ sở vững mạnh hàng năm).
II. Nhiệm vụ và giải pháp
1. Về thực hiện nhiệm vụ chính trị trong doanh nghiệp
a. Về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh
Từng doanh nghiệp phải xác định hướng đi đúng đắn, phù hợp với đặc thù và lợi thế của mình để xây dựng và phát triển doanh nghiệp nhanh và bền vững
Đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Tích cực chuyển dịch cơ cấu ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ hợp lý, tập trung phát triển mạnh ngành nghề sản xuất, kinh doanh mũi nhọn, ngành nghề truyền thống mà doanh nghiệp có bề dày kinh nghiệm; mở rộng thị trường gắn với xây dựng thương hiệu doanh nghiệp.
Thực hiện có hiệu quả việc xây dựng và triển khai văn hóa doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân.
Tiếp tục sắp xếp, bố trí lại tổ chức bộ máy quản lý theo hướng tinh gọn, hiệu quả, đáp ứng với đòi hỏi của sự hội nhập, cạnh tranh.
Đảm bảo việc làm, thu nhập và đời sống cho cán bộ, công nhân viên và người lao động; cải tiến công tác phân phối tiền lương và tăng thu nhập hợp lý, công bằng  trên cơ sở tính chất công việc và hiệu quả lao động.
Tham gia tích cực công tác xã hội, đồng thời với việc góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tích cực đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ, nhất là trong khâu quản lý tài chính, vật tư, chống thất thoát, chiếm dụng, tham ô, lừa đảo… đảm bảo an ninh kinh tế.
Trên cơ sở Quyết định số 197 - QĐ/TW ngày 24/11/2008 của Ban Bí thư, Đảng ủy Khối tiếp tục nghiên cứu và cùng các cơ quan có liên quan thực hiện có hiệu quả Quy chế phối hợp công tác giữa đảng ủy tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước và cấp ủy địa phương .
Tham mưu kịp thời với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, là cầu nối giữa các doanh nghiệp trong Khối với các ngành hữu quan và doanh nghiệp.
Luôn đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Phát hiện sớm những vấn đề phức tạp nảy sinh, không để bị động khi có những sự cố tiêu cực xảy ra.

b. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống của người lao động, thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình
Thực hiện tốt Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Trọng tâm là xây dựng con người trong thời đại kinh tế tri thức, xem đó là nhân tố quyết định thắng lợi của doanh nghiệp.
Đảm bảo việc làm, ổn định đời sống cho cán bộ, công nhân viên và người lao động; tạo thêm nhiều việc làm mới góp phần giải quyết những khó khăn cho xã hội.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời các quyền lợi chính đáng cho người lao động như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động…theo luật định.
Tiếp tục thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Trước hết, chăm lo xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân.
Kiên quyết đẩy lùi các tệ nạn tham nhũng, quan liêu, các biểu hiện tiêu cực, các tệ nạn xã hội khác; xây dựng khối đoàn kết, thân ái, đùm bọc, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống và công tác ở mỗi doanh nghiệp.
Đẩy mạnh phong trào văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao, rèn luyện thân thể không ngừng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu. Tiếp tục xây dựng và duy trì quỹ hoạt động văn nghệ, thể thao của khối Doanh nghiệp hàng năm, tạo nguồn kinh phí cho các hoạt động tập trung, tổ chức tốt hội thao, hội diễn hàng năm của Khối.
Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình phải được thực hiện nghiêm túc, không để xẩy ra vi phạm nhất là đối với cán bộ, đảng viên.

c. Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương đổi mới doanh nghiệp của Đảng, Nhà nước và của tỉnh
Với các doanh nghiệp nằm trong diện chuyển đổi của Chính phủ và của Uỷ ban nhân dân tỉnh, cấp ủy cần phải tập trung lãnh đạo cán bộ, đảng viên chấp hành tốt chủ trương sắp xếp, đổi mới tại doanh nghiệp. Thực hiện đúng kế hoạch, tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp theo sự chỉ đạo của cấp trên, đạt được yêu cầu, chất lượng.

  d. Tham gia công tác xã hội, thực hiện tốt công tác kết nghĩa với các buôn đồng bào dân tộc thiểu số
          Thực hiện tốt các hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”, các hoạt động từ thiện, nhân đạo, khắc phục thiên tai, thảm họa... Tham gia tích cực hoạt động kết nghĩa các buôn của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với ý thức tự giác cao, xác định công tác kết nghĩa với các buôn là tình cảm, là nhiệm vụ quan trọng của từng tổ chức cơ sở đảng và của doanh nghiệp.

          đ. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
          Thường xuyên nâng cao cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các loại đối tượng phá hoại, nhất là phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc khi cần.
          Thực hiện tốt Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22-10-2010 của Bộ Chính trị "Về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới".
          Quán triệt tư tưởng chủ động, an ninh từ cơ sở, không để phát sinh “điểm nóng” để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá; cảnh giác trước các âm mưu phá hoại nội bộ, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên, xuyên tạc, vu cáo… tạo ra nguy cơ “tự diễn biến” trong nội bộ.
          Thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa Đảng ủy khối Doanh nghiệp và Công an tỉnh DakLak về an ninh kinh tế và bảo vệ chính trị nội bộ.

e. Thực hiện quy chế dân chủ, thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí và quan liêu
Thực hiện tốt Kết luận số 65-KL/TW ngày 04/3/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Căn cứ các quy định về quy chế dân chủ của Chính phủ trong các loại hình doanh nghiệp, chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng tiếp tục củng cố, kiện toàn và phát huy tốt các hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốt việc công khai, dân chủ ở cơ sở.
Nghiêm túc thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

          g. Sản xuất, kinh doanh gắn với bảo vệ môi sinh môi trường, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng
          Ưu tiên cho phát triển công nghệ sản xuất sạch, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, cảnh quan… xem đó là tiêu chí hàng đầu trong đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
         
          2. Thực hiện nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, bộ máy quản lý và các đoàn thể chính trị - xã hội trong doanh nghiệp

          a. Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực cụ thể hoá đường lối của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh ủy; đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng và rèn luyện phẩm chất đạo đức cán bộ, đảng viên
         Nâng cao hơn nữa nhận thức và sự kiên định của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, người lao động đối với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn kết chặt chẽ việc nghiên cứu học tập nghị quyết với việc xây dựng và thực hiện chương trình hành động.
 Thực hiện tốt Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chú trọng việc “làm theo”, xem đó là đạo đức, là tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên.
Xây dựng tinh thần học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là học tập suốt đời, tự giác và thể hiện bằng kết quả từng việc làm cụ thể. Phấn đấu thực hiện tốt chuẩn mực: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Trước hết là cấp uỷ, người đứng đầu doanh nghiệp và cán bộ chủ chốt các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên phải là người tiền phong, gương mẫu để quần chúng noi theo.
          Tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, các nghị quyết Hội nghị Trung ương (khóa XI), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Chương trình hành động của Đảng bộ tỉnh thực hiện các nghị quyết Trung ương (khóa XI) trong cán bộ, đảng viên và các đoàn thể quần chúng.
          Thường xuyên quan tâm công tác tư tưởng, phát hiện sớm những mâu thuẫn nẩy sinh, tham mưu kịp thời, xử lý hiệu quả từ cơ sở.

         b. Đổi mới kiện toàn tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ, nâng cao chất lượng tổ chức đảng và đảng viên
         Xây dựng củng cố tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong doanh nghiệp. Coi trọng củng cố nâng cao chất lượng hoạt động và sinh hoạt của các chi bộ.
          Căn cứ Nghị quyết TW6 (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; Kết luận số 80 - KL/TW, ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 07 - CT/TW, ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về “Tăng cường công tác xây dựng đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” trong tình hình mới; Chỉ thị số 22 - CT/TW ngày 05/6/2008 của Ban Bí thư về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.
         Tăng cường công tác quản lý đảng viên; phấn đấu ngày càng tăng số chi bộ kết nạp được đảng viên.
         Xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu về công tác cán bộ.
         Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu có hiệu quả. Quan tâm giải quyết kịp thời những vụ việc vi phạm nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
         Thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ phục vụ tốt cho công tác xây dựng Đảng và bộ máy quản lý.

         c. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đồng thời với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
Lãnh đạo thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên.  Chú trọng nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát.
Hàng năm, các cấp uỷ và tổ chức đảng phải có chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát theo Điều 30, Điều lệ Đảng. Lãnh đạo cấp uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra 2 cấp thực hiện tốt các nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra được Điều lệ Đảng quy định. Chủ động, phát hiện và tập trung kiểm tra và giải quyết kịp thời những trường hợp khi có dấu hiệu vi phạm, việc thi hành kỷ luật phải “công minh, chính xác, kịp thời” đảm bảo công bằng, tránh oan sai, không để tồn đọng kéo dài. Giải quyết kịp thời số đơn, thư tố cáo và 100% số đơn, thư khiếu nại thuộc thẩm quyền phát sinh trong năm.

d. Đổi mới phương thức và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng
         Thực hiện đúng quy định của Trung ương chức năng, nhiệm vụ tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình doanh nghiệp. Cấp ủy cơ sở tiến hành rà soát, bổ sung quy chế làm việc và thực hiện các mối quan hệ công tác theo quy chế. Trong sinh hoạt Đảng phải phát huy dân chủ, đi đôi với giữ vững kỷ cương. Nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình trên cơ sở chân thành, thẳng thắn, mang tính xây dựng.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đối với các đoàn thể chính trị - xã hội, với doanh nghiệp. Cải tiến, nâng cao chất lượng cấp ủy, phân công cụ thể, gắn bó với cơ sở, nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong doanh nghiệp.

          e. Lãnh đạo xây dựng, củng cố các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng vững mạnh
Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện tốt trong việc giáo dục lý tưởng cho thanh niên, giáo dục truyền thống cách mạng và văn hoá dân tộc; thu hút được đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia. Bồi dưỡng, giáo dục và giới thiệu cho Đảng ngày càng nhiều đoàn viên ưu tú để tổ chức Đảng xem xét kết nạp.
Hội Cựu chiến binh xứng danh“Bộ đội Cụ Hồ” gương mẫu trong lối sống và công tác; quan tâm công tác xây dựng Đảng, xây dựng doanh nghiệp; phối hợp với Đoàn thanh niên và các đoàn thể chăm lo giáo dục thế hệ trẻ; thể hiện rõ vai trò là chỗ dựa tin cậy của Đảng và lãnh đạo doanh nghiệp. Cùng các đoàn thể Công đoàn, Đoàn Thanh niên tạo nên phong trào thi đua yêu nước có hiệu quả.
          Hoạt động của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp thường xuyên quan tâm, phát huy vai trò đại diện quyền lợi của người lao động, tham gia tích cực trong các phong trào thi đua yêu nước, tuyên truyền, vận động xây dựng khối đoàn kết thống nhất cao, góp phần xây dựng doanh nghiệp ngày càng phát triển.

D - TỔ CHỨC THỰC HIỆN

          Cấp ủy các tổ chức cơ sở đảng, đoàn thể, lãnh đạo các doanh nghiệp trong Khối tổ chức nghiên cứu, học tập và quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của cấp ủy cấp trên kết hợp việc cụ thể hóa bằng chương trình hành động của đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp trong từng năm và cả nhiệm kỳ để tiến hành việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng một cách thiết thực nhất.
          Ban Chấp hành Đảng bộ khối Doanh nghiệp giao cho Ban Thường vụ Đảng ủy Khối chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chương trình hành động này một cách có hiệu quả. Thường xuyên kiểm tra, uốn nắn những tồn tại để khắc phục và báo cáo kết quả định kỳ trong các cuộc họp của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối.
          Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ khối Doanh nghiệp được phân công theo dõi địa bàn có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện và theo dõi kết quả thực hiện ở các đơn vị cơ sở được phân công.
          Văn phòng Đảng ủy Khối chủ trì và phối hợp với các ban xây dựng đảng của Đảng ủy Khối để theo dõi, đôn đốc, tổng hợp báo cáo, tham mưu với Ban Thường vụ, Thường trực Đảng ủy Khối để kiểm tra, đánh giá… trong việc thực hiện Chương trình hành động này.


Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

QUYẾT ĐỊNH 197-QUI CHẾ PHỐI HỢP GIỮA TCT, TẬP ĐOÀN KINH TẾ NN VỚI CẤP ỦY ĐỊA PHƯƠNG

Quyết định số 197-QĐ/TW ngày 24-11-2008 của Ban Bí
thư về việc ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa đảng ủy
tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước với cấp ủy địa phương

- Căn cứ Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá X;
- Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư và Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá X);
- Xét đề nghị của Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan có liên quan,

BAN BÍ THƯ QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế phối hợp công tác giữa đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước với cấp uỷ địa phương.
Điều 2. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thực hiện quy chế phối hợp công tác, có kế hoạch triển khai phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương và doanh nghiệp.
Điều 3. Giao Ban Tổ chức Trung ương, Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương theo dõi việc thực hiện Quy chế này. Trong quá trình thực hiện, nếu cần bổ sung, sửa đổi, Ban Tổ chức Trung ương tổng hợp, trình Ban Bí thư xem xét, quyết định.

T/M BAN BÍ THƯ
(đã ký)
Trương Tấn Sang
-------------------------

QUY CHẾ
phối hợp công tác giữa đảng uỷ tập đoàn kinh tế,
tổng công ty nhà nước với cấp uỷ địa phương
(kèm theo Quyết định số 197-QĐ/TW,
ngày 24-11-2008 của Ban Bí thư)
_____

I. QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Quy chế này áp dụng cho đảng uỷ toàn tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, đảng uỷ công ty mẹ, đảng uỷ cơ quan tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, đảng uỷ ngân hàng thương mại nhà nước (gọi chung là đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty); cấp uỷ đảng doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc, thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước (gọi chung là cấp uỷ đơn vị thành viên) và các cấp uỷ địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện) nơi có các đơn vị trực thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đóng trên địa bàn.
Điều 2. Đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty và cấp uỷ địa phương thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định; phối hợp trong lãnh đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, công tác cán bộ, một số nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, công tác xây dựng đoàn thể chính trị - xã hội ở doanh nghiệp và ở địa phương.
Điều 3. Việc phối hợp công tác phải đảm bảo giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của tập đoàn kinh tế, tổng công ty, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ địa phương.

II- NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC PHỐI HỢP

Điều 4. Đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty có tổ chức đảng các đơn vị thành viên đóng trên địa bàn địa phương nhưng không trực thuộc cấp uỷ địa phương chủ trì, phối hợp:
- Trong công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh: Định kỳ mỗi năm một lần (hoặc khi cấp uỷ địa phương có yêu cầu), đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty báo cáo với tỉnh uỷ, thành uỷ (nơi có các đơn vị thành viên đóng trên địa bàn) về kế hoạch, phương hướng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của tập đoàn, tổng công ty; cấp uỷ đơn vị thành viên báo cáo với cấp uỷ cấp huyện nơi đơn vị đóng trên địa bàn về kế hoạch, phương hướng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của đơn vị thành viên đóng trên địa bàn có liên quan để phối hợp thực hiện.
- Trong công tác cán bộ: Trước khi bổ nhiệm cán bộ chủ chốt của đơn vị thành viên, đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty lấy ý kiến nhận xét cán bộ của cấp uỷ nơi cán bộ cư trú theo quy định. Khi có quyết định bổ nhiệm, điều động cán bộ chủ chốt của đơn vị thành viên đóng trên địa bàn, cấp uỷ đơn vị thành viên thông báo với cấp uỷ, chính quyền cấp huyện nơi đơn vị đóng trên địa bàn biết để phối hợp công tác.
- Trong công tác xây dựng đảng: Khi cần thiết, đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty báo cáo với tỉnh uỷ, thành uỷ về tình hình công tác xây dựng Đảng của đảng bộ; định kỳ mỗi năm một lần, cấp uỷ đơn vị thành viên báo cáo với cấp uỷ cấp huyện nơi đơn vị đóng trên địa bàn về tình hình công tác xây dựng Đảng ở đơn vị mình để cấp uỷ địa phương phối hợp chỉ đạo những vấn đề có liên quan.
Khi có nhu cầu, cấp uỷ đơn vị thành viên chủ động đề nghị với cấp uỷ địa phương về việc cử cấp uỷ viên, đảng viên, đối tượng đảng tham dự các đợt học tập triển khai nghị quyết, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng, lý luận chính trị, bồi dưỡng nhận thức về Đảng, bồi dưỡng đảng viên mới... do cấp uỷ địa phương tổ chức trên địa bàn.
Đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty chủ động phối hợp với cấp uỷ địa phương chỉ đạo cấp uỷ đơn vị thành viên thực hiện tốt việc giới thiệu đảng viên đang công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, đảng uỷ cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú theo quy định.
- Trong công tác xây dựng đoàn thể chính trị - xã hội: Nếu các đoàn thể chính trị - xã hội của đơn vị thành viên không sinh hoạt ở địa phương thì đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty chỉ đạo các đoàn thể chính trị - xã hội tham gia các phong trào của địa phương nơi đơn vị đóng trên địa bàn theo đề nghị của cấp uỷ địa phương phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp.

Điều 5. Đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty có tổ chức đảng các đơn vị thành viên đóng trên địa bàn địa phương, trực thuộc cấp uỷ địa phương chủ trì, phối hợp:
- Trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh: Định kỳ mỗi năm một lần hoặc khi cần, đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty báo cáo với tỉnh uỷ, thành uỷ về kế hoạch sản xuất, kinh doanh của tập đoàn kinh tế, tổng công ty liên quan đến địa phương, đến nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của đơn vị thành viên trực thuộc cấp uỷ địa phương.
Cấp uỷ địa phương báo cáo với cấp uỷ cấp trên trực tiếp (quận uỷ, thị uỷ, huyện uỷ, đảng uỷ khối hoặc tỉnh uỷ, thành uỷ) về nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của đơn vị để cấp uỷ cấp trên chỉ đạo thực hiện; đồng thời có trách nhiệm lãnh đạo triển khai thực hiện nghị quyết của đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty về nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh có liên quan đến đơn vị.
- Trong công tác cán bộ: Đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty chủ động thông báo với cấp uỷ địa phương về yêu cầu, tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp; chủ động trao đổi bằng văn bản với cấp uỷ địa phương về nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, thực hiện chính sách hưu trí đối với cán bộ quản lý chủ chốt của doanh nghiệp; lấy ý kiến nơi cư trú theo quy định khi bổ nhiệm. Khi có ý kiến khác nhau thì đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty cùng cấp uỷ địa phương thảo luận để thống nhất ý kiến, nếu không thống nhất thì đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty quyết định theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm về quyết định đó; đồng thời, đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty, cấp uỷ địa phương cùng báo cáo lên cấp uỷ cấp trên trực tiếp.
Khi có quyết định bổ nhiệm, điều động, kỷ luật cán bộ chủ chốt của đơn vị thành viên đóng trên địa bàn, cấp uỷ đơn vị thành viên báo cáo với cấp uỷ cấp trên trực tiếp (huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, đảng uỷ khối hoặc tỉnh uỷ, thành uỷ nơi đơn vị đóng trên địa bàn biết để phối hợp chỉ đạo về công tác đảng.
- Trong công tác xây dựng Đảng: Đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty chủ động trao đổi với cấp uỷ địa phương là cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng các đơn vị thành viên về bộ máy tổ chức, về nhân sự cấp uỷ trước khi đại hội, về khen thưởng, kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng các đơn vị thành viên phù hợp với yêu cầu tổ chức sản xuất và đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trong công tác xây dựng đoàn thể chính trị - xã hội: Tập đoàn kinh tế tổng công ty có các đoàn thể chính trị - xã hội sinh hoạt ở địa phương thì chủ động phối hợp với cấp uỷ địa phương:
+ Hỗ trợ tổ chức các phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh, công tác xã hội, môi trường, chấp hành nghĩa vụ công dân...
+ Tham gia ý kiến về xây dựng tổ chức, về bố trí nhân sự chủ chốt các đoàn thể của đơn vị thành viên.
+ Khi có sự việc đột xuất (thiên tai, hoả hoạn, đình công, lãn công...) xảy ra ở doanh nghiệp, đơn vị thành viên thì đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty chủ động phối hợp với cấp uỷ địa phương lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời.
+ Xem xét, giải quyết những phản ánh, kiến nghị của các đoàn thể chính trị - xã hội, những vấn đề liên quan đến đơn vị, doanh nghiệp thành viên đóng trên địa bàn theo đề nghị của các đoàn thể chính trị - xã hội và cấp uỷ địa phương.
+ Tạo điều kiện thuận lợi để các đoàn thể chính trị - xã hội của đơn vị, doanh nghiệp thành viên thực hiện tốt nhiệm vụ của từng tổ chức theo chỉ đạo của cấp uỷ địa phương và đoàn thể chính trị - xã hội cấp trên.

Điều 6. Cấp uỷ địa phương chủ trì, phối hợp với đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty:
- Trong lãnh đạo thực hiện nghị quyết, quyết định của cấp uỷ, chính quyền địa phương:
+ Cấp uỷ, chính quyền địa phương chủ động thông báo với các đơn vị thành viên các nghị quyết, quyết định liên quan đến doanh nghiệp đóng trên địa bàn về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, môi trường, đất đai, tài nguyên, dân số - kế hoạch hoá gia đình... Khi cần thiết, thông báo với đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty có các đơn vị thành viên đóng trên địa bàn để đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty phối hợp chỉ đạo các đơn vị thành viên đóng trên địa bàn thực hiện.
+ Khi có tình hình khẩn cấp và yêu cầu đột xuất (thiên tai, hoả hoạn...), cấp uỷ địa phương yêu cầu tập đoàn kinh tế, tổng công ty, đơn vị thành viên triển khai việc điều động cán bộ, người lao động, phương tiện của đơn vị thành viên để thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
+ Cấp uỷ chính quyền địa phương mời đại diện cấp uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty hoặc đại diện cấp uỷ đảng đơn vị thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty đóng trên địa bàn dự các hội nghị tổng kết, sơ kết, hội nghị chuyên đề có liên quan đến đơn vị thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty.
+ Khi cần, cấp uỷ địa phương chủ động trao đổi, đề xuất với đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty về những nội dung trong các nghị quyết, quyết định của cấp uỷ địa phương để triển khai thuận lợi trong các đơn vị thành viên.
+ Tổ chức đảng các đơn vị thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty có trách nhiệm chấp hành các nghị quyết, quyết định của cấp uỷ, chính quyền địa phương có liên quan đến đơn vị đóng trên địa bàn.
- Trong lãnh đạo thực hiện một số nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng:
+ Đối với đảng uỷ toàn tập đoàn kinh tế, tổng công ty có tổ chức đảng các đơn vị thành viên đóng trên địa bàn địa phương: Cấp uỷ huyện, quận thông báo bằng hình thức thích hợp về kế hoạch, nội dung, thời gian mở các lớp học tập nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của cấp uỷ địa phương có liên quan; các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị, bồi dưỡng nhận thức về Đảng, bồi dưỡng đảng viên mới, bồi dưỡng cấp uỷ viên... do cấp uỷ địa phương tổ chức để các tổ chức đảng đơn vị thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty đóng trên địa bàn biết, cử người tham dự các lớp theo kế hoạch của cấp uỷ địa phương nếu có nhu cầu.
+ Đối với đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty có tổ chức đảng các đơn vị thành viên đóng trên địa bàn địa phương, trực thuộc cấp uỷ địa phương: Cấp uỷ địa phương chủ động trao đổi ý kiến với đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty trước khi xây dựng quy hoạch cấp uỷ, chuẩn bị nhân sự cấp uỷ cho đại hội Đảng; xét khen thưởng và đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng hằng năm đối với các đơn vị thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty đóng trên địa bàn; phối hơp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát để thực hiện theo đúng quy định

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 7. Định kỳ mỗi năm một lần hoặc khi cần, đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty và tỉnh uỷ, thành uỷ, cấp uỷ đơn vị thành viên và huyện uỷ, thị uỷ, quận uỷ nơi có đơn vị thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty đóng trên địa bàn thông báo bằng hình thức phù hợp những vấn đề liên quan đến tình hình hoạt động và kế hoạch công tác của mỗi bên để phối hợp lãnh đạo các tổ chức đảng trực thuộc thực hiện.
Điều 8. Khi cần thiết, đảng uỷ tập đoàn kinh tế, tổng công ty, cấp uỷ đơn vị thành viên đóng trên địa bàn hoặc tỉnh uỷ, thành uỷ, huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ tổ chức rút kinh nghiệm việc phối hợp công tác.
Điều 9. Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện Quy chế này.
---------------------